Shopping cart

close
FREE STANDARD SHIPPING ON ALL ORDERS ABOVE £40

Tag Archives: máy tính

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Cách đặt tạo mật khẩu win 7 cho máy tính laptop

Cách đặt tạo mật khẩu win 7 cho máy tính laptop

 Đặt mẩu khẩu đăng nhập windows 7, cách tạo mật khẩu cho người dùng tron win 7, tao mật khẩu win 7 nhanh

Đặt mật khẩu khi khởi động máy tính tuy hơi rắc rối khi mỗi lần khởi động lại máy tính các bạn đều phải gõ mật khẩu hơi mất thời gian, tuynhieen đặt password điều rất cần thiết để bảo mật máy tính, laptop của ban. Trong bài viết này mình sẽ hướng dẫn các bạn đặt mật khẩu trên windows 7 cho máy tính laptop của các bạn.

Trước tiên các bạn vào Start -> Chọn Control Panel

Cách đặt tạo mật khẩu win 7 cho máy tính laptop

Tại đây thì các bạn tìm phần User Accounts và chọn.

Cách đặt tạo mật khẩu win 7 cho máy tính laptop

Click vào phần Create a password for your account

Cách đặt tạo mật khẩu win 7 cho máy tính laptop

Tại đây các bạn đánh password của mình vào, gõ 2 ô giống nhau

Lưu ý: Phần password Hint là hướng dẫn password, chứ không phải password đâu nhe. Tức là khi bạn nhập sai mật khẩu, nó sẽ hiện ra cái pass hint này để hướng dẫn các bạn nhớ lại mật khẩu, nếu các bạn nhập ô đó là mật khẩu luôn thì lộ password rồi. Tốt nhất là không nên điền phần đó.

Cách đặt tạo mật khẩu win 7 cho máy tính laptop

Chúc các bạn thành công

Read More
Phần Mềm - Download

Tổng hợp tất cả các phần mềm cần thiết trên Windows

Tổng hợp tất cả các phần mềm cần thiết trên Windows

 

[​IMG]

Mình viết bài này để chia sẻ cho các bạn một số phần mềm hữu ích sau khi cài Windows! Mọi người ủng hộ mình nha! (Mình sẽ thường xuyên cập nhật các phần mềm ở bài này).

1. Công cụ đầu tiên không thể thiếu đối với ai có bản quyền và cần sao lưu lại: Advanced Tokens Manager V3.5 RC5 – Giải pháp sao lưu và phục hồi bản quyền Window và Office hiệu quả

2. Công cụ tìm và Update Driver cho máy tính (cái này không thể nào thiếu):

Phần mềm mình sưu tầm được :

3.Cài đặt Office:

4. Những phần mềm giải nén mạnh nhất:

Winrar:

Winzip: Download WinZip 17.5 Pro Full – Phần mềm nén và giải nén dữ liệu mạnh mẽ | TECH.RUM | Nghiện Công Nghệ

uZip: uZip 1.0 Full Free – Phần mềm giải nén tập tin | TECH.RUM | Nghiện Công Nghệ

5. Bộ gõ tiếng Việt:

6. Phần mềm nghe nhạc + xem Video:

7. Phần mềm gỡ bỏ ứng dụng:

8. Phần mềm dọn rác:

9. Phần mềm download:

10. Phần mềm diệt Virus:

11. Hỗ trợ xem flash trên trình duyệt:
Adobe Flash Player : Adobe Flash Player 12.0.0.77 Full Final – Hỗ trợ xem flash trên trình duyệt | TECH.RUM | Nghiện Công Nghệ

12. Mã hóa, giải mã các định dạng nhạc + phim:
K-Lite Codec PackMega : K-Lite Codec Pack Mega 10.4.0 – Bộ mã hóa, giải mã các định dạng nhạc-phim | TECH.RUM | Nghiện Công Nghệ

13. Phần mềm tối ưu hóa máy tính:

14. Một Số Trình Duyệt Web mạnh mẽ:

15. Phần mềm đổi đuôi nhạc + Video:

16. Phần mềm hỗ trợ âm thanh:
DFX Audio : DFX Audio Enhancer 11.104 + KeymakerCore – Tăng cường âm thanh… | TECH.RUM | Nghiện Công Nghệ

17. Phần mềm cắt nối nhạc:
Phần Mềm Cắt, Ghép Nhạc MP3 – MP3 Cutter Joiner v2.20 | TECH.RUM | Nghiện Công Nghệ

18. Phần mềm kiểm tra tình trạng ổ cứng:
CrystalDiskInf : CrystalDiskInfo 6.0.4 Final + Portable – Phần mềm kiểm tra tình trạng ổ cứng | TECH.RUM | Nghiện Công Nghệ

19. Phần mềm chống phân mảnh ổ cứng:
Smart Defrag 2 : IObit Smart Defrag Free Build 2.9.0.1225 -Chống phân mãnh Ổ cứng miễn phí Hàng đầu hiện nay | TECH.RUM | Nghiện Công Nghệ

20. Phần mềm chỉnh sửa PDF:
Wondershare PDF Editor : Wondershare PDF Editor 3.6.2.15 Full Key – Phần mềm tạo và chỉnh sửa file PDF | TECH.RUM | Nghiện Công Nghệ

 

nguồn : techrum

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Một số lưu ý khi nâng cấp ổ cứng máy tính

Một số lưu ý khi nâng cấp ổ cứng máy tính

Nếu bạn muốn nâng cấp ổ cứng thì bạn nên tìm hiểu về một số tiêu trí sau đây sao cho phù hợp nhất.  Những lưu ý khi nâng cấp ổ cứng máy tính  này giúp các bạn chọn loại ổ cứng mới cho chiếc máy tính của bạn sao cho phù hợp nhất.

Nếu như thêm RAM hoặc nâng cấp ổ cứng SSD sẽ tăng hiệu năng cho máy tính của bạn, giúp nó chạy nhanh hơn, thì nâng cấp ổ cứng máy tính (HDD laptop) hầu như chỉ đem lại cho chúng ta nhiều dung lượng lưu trữ hơn mà thôi. Bởi hiện nay HDD gần như đã đạt đến giới hạn về tốc độ tối đa, những phiên bản HDD mới nhất cũng chỉ có tốc độ cao hơn các đời cũ không đáng kể.

Nâng cấp ổ cứng

Hướng dẫn nâng cấp ổ cứng

Cách đổi ổ HDD mới tương tự như việc thay RAM, và cách làm cũng khá đơn giản, đầu tiên cũng ta cần tìm hiểu những việc sau:

Máy tính của bạn sử dụng ổ cứng chuẩn nào?

Thông thường có 2 chuẩn HDD phổ biến được dùng cho laptop là IDE và SATA (bài này sẽ không đề cập đến micro SATA hoặc các chuẩn khác). Do đó, việc đầu tiên là xác định xem MTXT của bạn đang dùng HDD chuẩn nào, SATA hay là IDE. Những laptop sản xuất trong các năm từ 2006 trở về đây thường sử dụng chuẩn SATA thay cho chuẩn IDE cũ tốc độ thấp. Chúng ta cũng có thể sử dụng một phần mềm là AIDA64(trước đây có tên EVEREST) để kiểm tra thông số của ổ cứng, về các thông tin cơ bản như loại giao tiếp (IDE, SATA*), tốc độ vòng quay, bộ nhớ đệm, dung lượng…

Chọn mua ổ cứng phù hợp

Tiếp bước trên đã xác định loại giao tiếp của ổ cứng, còn 2 thông tin khác mà chúng ta cần quan tâm, là dung lượng và kích thước ổ. Về dung lượng, nó tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng cũng như túi tiền, hiện nay trên thị trường có rất nhiều dung lượng, phổ biến từ 160GB đến 500GB, thậm chí chúng ta cũng mua được ổ cứng laptop có dung lượng lên đến 1TB và 1,5TB.

Về kích thước, phần nhiều các laptop sẽ sử dụng ổ cứng loại 2.5″, một số loại netbook, ultrabook lại sử dụng loại 1.8″ có dung lượng cũng như tốc độ truy xuất thấp hơn 2.5″ đáng kể. Ngoài ra, còn một lưu ý nữa là độ dày của HDD đó, hiện các ổ cứng 2.5″ đang phổ biến với 3 độ dày, gồm 7mm, 9mm và 12.5mm. Trong đó, các MTXT thông thường sẽ sử dụng loại 9mm, đây cũng là kích thước tiêu chuẩn của dòng ổ 2.5″, loại 12,5mm thường được dùng ở các ổ cứng đời cũ chuẩn SATA I, hoặc các ổ 1TB và 1.5TB bởi bên trong nó có đến 3 phiến đĩa. Loại 7mm thường được dùng ở các ultrabook, giúp giảm độ mỏng của máy tính (ví dụ Asus Zenbook), dĩ nhiên ổ mỏng 7mm sẽ có dung lượng thấp hơn loại 9mm.

Còn có một thông số quan trọng nữa là tốc độ vòng quay, 5400 vòng/phút hoặc 7200 vòng/phút. Dĩ nhiên tốc độ quay 7200rpm sẽ cho tốc độ truy xuất cao hơn loại 5400 một chút. Cuối cùng là tính năng chống sốc (shock resistant), giúp bảo vệ đầu từ của ổ cứng khi bị rung động, nhằm bảo vệ dữ liệu bên trong. Thường thì các ổ cứng 7200rpm sẽ được trang bị sẵn tính năng này, hoặc chúng ta cũng có thể xem trong thông số sản phẩm được ghi kèm.

Lưu ý:

– Bạn cần nhận thức rõ việc mình đang làm, thật cẩn thận và nhẹ tay.

– Một số laptop khi bán ra được dán tem đè lên vị trí các con ốc, do đó việc thay HDD sẽ làm rách tem, khiến máy bị mất bảo hành. Liên hệ nơi bán để họ hỗ trợ bạn khi cần thay HDD.

– Khi vặn nắp nhựa hoặc gỡ ổ cứng mà thấy cấn, cứng tay, thì nên kiểm tra kĩ, có thể còn sót con ốc nào đó vẫn chưa mở.
Chúc các bạn thành công.

Read More
Tin Công Nghệ, Tin Tức

9 lý do tại sao dân IT không sửa máy tính cho người nhà

9 lý do tại sao dân IT không sửa máy tính cho người nhà

Học IT là mặc định phải biết sửa chữa máy tính cho họ hàng, người thân, bạn bè và người yêu. Dù vậy, có đôi khi bạn cũng phải “lực bất tòng tâm” trong những trường hợp khó đỡ.

Công việc hay học tập gắn liền với hai chữ IT đồng nghĩa với việc khiến bạn trở thành thợ sửa máy tính chính cho toàn bộ gia đình và cả bạn bè. Nhưng không phải cử nhân tin học nào cũng là “trùm” cài Windows, Driver hoặc là có đủ khả năng và kiên nhẫn xử lý những tình huống dở khóc dở cười dưới đây.

[​IMG]

1. Máy tính hư trong tương lai luôn là lỗi của bạn
Đã bao giờ bạn phát điên vì thùng máy tính bạn mua hộ cho một người họ hàng dưới quê cứ liên tục hư vì họ không biết sử dụng, nhưng lỗi lầm là do bạn? Chắc chắn bất kỳ dân IT “nhiệt tình” nào đều đã gặp phải trường hợp này. Không hư bàn phím vì “lỡ tay” cũng sẽ hư ổ cứng vì “lỡ chân“. Đôi khi để gìn giữ tình cảm gia đình, bạn phải cắn răng chi cả triệu đồng để khắc phục những sự cố không phải do lỗi của bạn.

2. “Tại sao email của bố không dùng được nữa?”
Bạn tặng cho bố của bạn một chiếc máy tính. Kể từ giây phút đó trở đi, bạn nghiễm nhiên trở thành IT helpdesk và giảng viên tin học căn bản 24/24. Dù là buổi họp quan trọng, chạy đua với deadline hay bất kể chuyện quan trọng gì…bạn cũng sẽ nhận được hàng loạt các cú điện thoại nhờ hướng dẫn sử dụng những thao tác đơn giản nhất như ngắt dòng trong MS Word, chỉnh lại mật khẩu email…mà khổ nỗi, nếu không giúp đỡ thì bị quở trách, còn nếu support qua điện thoại thì sự kiên nhẫn là tố chất cần thiết của mọi nhân viên IT-gia-đình.

3. “Con ơi, có nhớ mật khẩu là gì không?”
Thiết lập mạng Wi-Fi cho họ hàng và ghi lại rõ ràng mật khẩu trên tờ giấy. Một tháng sau, bạn sẽ phải setup lại Wi-Fi một lần nữa vì chủ nhà đã vô tình làm mất trong một lần dọn nhà.

4. File ơi, file ở đâu rồi?
Một trong những điều gây ức chế nhiều nhất cho tất cả những người IT-gia-đình là tình trạng “nhờ kiếm file hộ“. Ai đó trong nhà nhận file qua email và không biết tải attachment xuống – bạn phải ra tay. File được tải xong thì bạn lại phải ra tay tiếp tục để chép hộ vào USB đem đi in. Và dù bạn có bận việc hay không, trên công ty, bạn cũng phải biết tận dụng thời gian để “in hộ” file đó cho người thân của mình. Cảm giác in lén trên công ty rất…khó tả!

5. “Anh ơi, sao Wi-Fi phòng trọ em chậm quá?”
Khi người yêu hỏi câu này, bạn biết rằng mình sẽ phải dành thời gian sang nhà cô ấy config lại router và ngồi tìm ra nguyên nhân. Điều gây ức chế nhất có lẽ là config cả ngày trời xong mới biết: W-iFi đang được share cho đồng chí sinh viên trọ kế bên dùng ké và máy tính nhà bên ấy có lẽ đang cắm download 24/24.

6. “Anh ơi, em mua máy tính rồi, anh chép dữ liệu sang máy mới hộ em ạ!”
So với các đề bài IT lắt léo khác, đây có lẽ là bài test tính kiên nhẫn ác liệt nhất dành cho bạn. Ngồi copy từng thư mục với chủ máy tính, xóa các thư mục không cần thiết… Có lẽ, bạn đang làm công việc dọn rác máy tính hơn là backup dữ liệu và chép sang máy khác.

7. “Trời ơi, dữ liệu đâu hết rồi???”
Máy tính dính virus nặng. Bạn đã cảnh báo là có thể mất dữ liệu trong quá trình quét và backup. Khổ chủ đã gật đầu đồng ý. Sau khi fix xong máy tính, khổ chủ kiểm tra lại và giật mình vì dữ liệu không cánh mà bay. Dân sửa máy tính free trở thành tội đồ số một và bị đuổi về không một lời từ biệt.

8. “Anh sửa hộ máy tính bạn em nhé!”
Khi bạn đã sửa máy tính dùm một người – cơ hội lớn là tất cả bạn bè của người đó cũng sẽ mang laptop đến nhờ bạn cài lại win, bẻ khóa phần mềm nào ấy…Vì lịch sự (vả cả nể), bạn sẽ trở thành “cu li” cho thêm một người xa lạ nữa.

9. “Kiếm dùm em phần mềm XYZ và cài đặt hộ em luôn anh ơi”
Một khi bạn đã lỡ dính vào chuyện sửa máy tính, 100% là chuyện cài driver, máy in, kể cả cài phần mềm mới họ cũng sẽ gọi đến bạn. Một lần làm tất cả thì không sao, nhưng đa phần bạn sẽ mất rất nhiều giờ nghỉ ngơi quý giá để sửa những lỗi trời ơi mà chính bạn cũng không biết từ đâu ra.

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Một số lỗi thường gặp trên máy tính và cách khắc phục.part1

Một số lỗi thường gặp trên máy tính và cách khắc phục.part1

Một số lỗi thường gặp trên máy tính và cách khắc phục 01

Hiện tại , máy tính  bay giờ đã trở thành một món phương tiện không thể thiếu đối với mọi người  và nhất là giới văn phòng  . Bạn cứ nghỉ khi đến thời hạn nộp báo cáo,  đơn giản là cuối tháng phải báo cáo thuế hay tính lương cho toàn bộ nhân viên công ty mà máy tính bạn ì ạch , lỗi ,phần mền không khởi động v.v.v

Học làm it  xin giới thiệu đến bạn  một số Lỗi thường gặp trên máy tính và cách khắc phục của nó nhằm giúp cho các bạn xữ lý kip thời để chủ động trong công việc. Hầu hết nhân viên văn phòng là sử dụng trên hệ điều hành windows  vì thế mình chỉ giới thiệu  lỗi trên windows thôi nhé !

1 –  Màn hình Desktop trống trơn .

Hiện tượng :  khi khởi động Windows màn hình destop mất hết các biều tượng phần mền, tài liệu mà chỉ còn  máy biểu tượng ban đầu như My computer, Recycle Bin hoặc không thấy gì cả.

Cách xủ lý :  Tình trạng trên có thể là do thiết lập màn hình desktop hoặc do tạo thêm tài khoản ( user)  . Bạn có thể làm theo nhưng cách sau

  • Thiêt lập màn hình desktop : Chuột phải lên vùng trống màn hình desktop chọn View > Show desktop icons

sự cô không thấ desktop

 

  •  Xóa bớt user do log on nhầm  :Bấm chuột phải lên biểu tượng My Computer rồi chọn Manage, hiện ra 1 cửa sổ  bấm chuột lên hàng chữ local users and groups trong cột bên trái  rồi bấm chuột lên hàng chữ users , bấm đúp chuột lên tên tài khoản và chọn Account is disabled.

loi-khong-thay-desktop

 

2- Không truy cập  được trang web

Hiện tượng :  hiện tại trình duyệt web ( internet explorer, firefox ) chay windows không mở được các trang web nữa. Mỗi khi chạy thì cữa sổ có dòng chữ ” cant’ find a server ”

Cách xủ lý : Tính năng kết nối internet trong máy tính đã bị lỗi nên các trình duyệt web không truy cập được . Rất nhiều cách nhưng hoangdiep.net chỉa sẻ cho bạn 1 cách mà các bạn có thể thực hiện  và đơn giản nhất .

Đưa các thiết lập về chế độ mặc định : bấm tổ hợp phím ( windows + R) gõ vào ô CMD và Enter  cửa sổ DOS bấm lệnh netsh winsock reset và bấm phím Enter

khong-truy-cap-vao-web-duoc

3-Máy Tính bị nhiễm Virus ẩn dữ liệu  vào 1 shortcut

 virus tạo shortcut

Hiện tượng : Loại virus làm cho thư mục tự động biến thành shortcut , ví dụ : 1 thư mục có dung lượng là 1G  trong đó có rất nhiều file và thư mục con khác   tư nhiên thành 1 shorcut có dung lượng vài KB ..

Cách xử lý : 

– Xữ lý virus : Bạn download phần mền BKAV home và quét toàn bộ ổ đĩa và USB bị  nghiễm virus

– Phục hồi file ẩn : Tải công cụ FixAttrb của Bkav >Chạy công cụ FixAttrb.exe vừa tải về. >Trên giao diện của chương trình bạn bấm Chọn ổ đĩa, thư mục cần khôi phục lại thuộc tính ban đầu  và bấm OK. Hoặc bạn dùng FixAuto 1.1.7  để khắc phục | Bài viết về FixAuto

ThinhNguyen

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Thủ Thuật khắc phục sự cố ngôn ngữ Tiếng Pháp trên Google Chrome

Thủ Thuật khắc phục sự cố ngôn ngữ Tiếng Pháp trên Google Chrome

 

Thủ Thuật khắc phục sự cố ngôn ngữ Tiếng Pháp trên Google Chrome

Người Việt Nam chúng ta dùng thường tại sử dụng Google Chrome phiên bản tiếng việt  khi duyệt web trên internet . Chắc hẳn mọi người có từng bị là mình cần đăng ký thành viên, hay  toàn bộ  văn bản trên  trang web  bị chuyển mặc định  thành ngôn ngữ Pháp .Đôi khi điều này  khiến bạn bực mình  và khó chịu . Mình xin giới thiệu 1 thủ thuật máy tính nhỏ để khắc phục sự cố này nhé.

Lỗi này  thường  phát sinh do việc phát triển  và thiết kế  web dùng  chế độ  tư nhận  dạng  ngôn ngữ  cho trang web của họ  , mà Tiếng Việt lại được phát triển  dựa trên  cách bỏ dấu  tương tự  Tiếng Pháp  . Và đây chính là  nguyên nhân  xảy ra  tình trạng   khi truy cập một web là hiện ra ngôn ngữ Tiếng Pháp

Thủ thuật  khắc phục việc này là loại bỏ ngôn ngữ Tiếng Pháp trên trình duyệt Google Chrome .

Bước 1 : bạn vào  biểu tượng cach khac phuc su co tieng phap của google chrome > cài đặt

khac phuc su co tieng phap của google chrome

Bước 2 : Trong giao điện cài dặt bạn chọn  xuống mục  Hiển Thị  cài đặt  nâng cao 

cach khac phuc su co tieng phap của google chrome 3

Bước 3 : Kéo thanh  cuộn  xuống  dưới  tìm đến  mục Ngôn Ngữ  bấm vào  >  Cài đặt ngôn ngữ  đầu vào 

 khac phuc su co tieng phap của google chrome

Bước 4 : Tại cửa sổ cài đặt ngôn ngữ >  bạn chọn đến 2 dòng có nhãn là tiếng Pháp và xóa chúng đi bằng cách bấm vào chữ ( X ) ở cuối dòng > OK
cach khac phuc su co tieng phap của google chrome5

 

Sau khi bấm ok và thoát ra phần cài đặt , bạn có thể vào những trang web tự nhận dạng ngôn ngữ để kiểm tra lại  như thế nào nhé

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Làm thế nào để làm sạch một máy tính bị nhiễm phần mềm độc hại ( Malware) .

Làm thế nào để làm sạch một máy tính bị nhiễm phần mềm độc hại ( Malware) .

Làm thế nào để  làm sạch một máy tính bị nhiễm phần mềm độc hại ( Malware) .

phần mềm độc hại ( Malware)  !

Loại phần mền  được sử dụng  hoặc được lập trình  bởi  những kẻ  tấn công hệ thống  để phá vỡ mọi hoạt động của máy tính của bạn với  mục đích  thu thập  thông tin nhạy cảm (tài khoản ngân hàng, tài khoản email, visa… ) , hoặc họ truy cập trái phép vào máy tính  cá nhân  để theo dõi hoạt động  của bạn. Phần mềm độc hại ( Malware) có thể xuất hiện dưới dạng 1 đoạn mã độc , một dạng kịch bản lập trình được chèn váo các  các phần mền khác nhau.

phần mềm độc hại ( Malware)  bao gồm  virus máy tính ,  worms ,trojan , rootkits, keyloggers, dialers, spyware phần mền gián điệp ( spyware ) ,  phần mền quảng cáo(adware)  , các phần mền bảo mật giả mạo  và các chương trình độc hại khác . Phần lớn các hoạt động của  worms và trojan là nhiều nhất. Rất khó cho việc bạn nhận biết là máy tính của bạn đã bị  xâm nhập bởi phần mềm độc hại ( Malware)   hay không những kẻ tấn công đã cố che giấu mã độc  của  họ  và che đi những gì chương trình của họ đang thực hiện trên máy tính bị nhiễm . Và cũng rất khó  để  cho chúng ta biết  danh sách các triệu  chứng  của một máy bị nhiễm hay không  vì các triệu chứng ấy có thể xảy ra bởi nhưng xung đột phần cứng , hay hêt thống của bạn không ổn định , hoặc do nhiều yếu tố khác nhau  . Tuy nhiên mình xin cung cấp cho các bạn một vài ví dụ để bạn có thể biết được máy tính bạn có bị nhiễm Phần mềm độc hại ( Malvare) hay không nhé.!

 

phần mềm độc hại ( Malware)

 

Bạn có thể biết được máy tính bạn có bị nhiễm Phần mềm độc hại ( Malvare) hay không ?

 Trình duyệt web bạn Microsoft Internet Explorer, Mozilla Firefox, Google Chrome đứng im , bị treo hoặc là không phản hồi , xuất hiện nhiều quảng cáo , trang chủ mặc định của trình duyệt  web của bạn  bị thay đổi bất thường , truy cập đến trang web có SSL ( https://) bị chặn , khi bạn trup cập một web và bị chuyển hướng đến 1 web khác có nội dung bất ổn , có nhiều tin nhắn bật lên khi bạn truy cập web , 1 vài thanh công cụ lạ xuất hiện bất ngờ trên các trình duyệt web của bạn . Máy tính của bạn chậm lạ thường , máy tính  bi treo , đứng im và thực hiện lệnh truy cập  không thấy phản hồi kiến bạn phải restart . Xuất hiện biểu thượng lạ trên Destop của bạn  mà bạn không nhận  ra  . Máy tính bạn tự động khởi động lại ( mà không phải do update windows ) . Bạn nhìn thấy thông điệp trên màn hình đại loại là  ”  ê máy của chú em bị lỗi nhiều tập tin , thư mục bị hỏng,và phần mềm này sẻ giúp chú mày giải quyết ngay ” . Và cuối cùng là cách dễ nhận biết nhất là không thể truy cập vào Control Panel, Task Manager, Registry Editor hoặc Command Prompt

Bài viết dưới đây là  một số hướng dẫn sẻ giúp các bạn  loại bỏ hầu hết các Phần mềmđộc hại ( Malvare) có thể tồn tại trên máy tính của bạn .Và nếu bạn gặp những triệu chứng ở trên thì các bạn nên  làm theo hướng dẫn kiểm tra và loại  bỏ  bất kỳ những  ” hiện tượng lạ”  trên máy bạn 

Làm thế nào để  làm sạch một máy tính bị nhiễm phần mềm độc hại ( Malware)

Hầu hết các phần mền độc hại ( malware) không cho phép bạn sử dụng các ứng dụng  để quét  theo yêu cầu , khi máy tính của bạn chạy môi trường windows bình thường . Vì thế bạn nên chạy windows trong môi trường Safe mode  (  máy tính bạn chạy trong môi trường an toàn )

Nếu máy tính của bạn trong môi trường  windonw bình thường có thể chủ động trong  quét được thì các bạn nên thực hiện, vì ở Safe mode hơi khó khăn cho các bạn truy cập . Và khi đuối sức không khắc phục được thì buộc lòng phải truy cập  chế độ Safe mode .

Để khới động Safe mode và truy cập internet để download phần mềm làm sạch mã độc trong máy tính của bạn thì bạn làm như sau :

Bước 1 : khởi động máy tính ( nhớ loại bỏ boot CD , DVD ) > boot thẳng vào HDD của bạn . Nếu bạn sử dụng windows XP, windows 7 thì bấm và giữ F8  khi khởi đông máy tính   nói dễ  hiểu hơn là ” khi bât máy tính lên bạn bấm nút F8 liên tục ”  . Còn nếu bạn là windows 8 thì mình sẻ có bài viết nhỏ nhé ! đại loại là bấm tổ hơp phím shift + F8 do nó bị ẩn .

Bước 2 : chọn safe mode with  NetWorking  lúc này bạn có thể sử dụng internet trong môi trường an toàn giao diện hơi khó nhìn và bạn truy cập internet download phần mền loại bỏ mã độ : như BKAV  của Việt Nam
safe mode windows

Hầu hết bạn dùng tiện ích để làm sạch phần mềm độc hại ( Malware)  tại Safe mode thì máy tính bạn đã ổn định gần 1 phần nào đó rồi.. việc này mình sẻ đi sâu vào các bước làm sạch các phần mềm độc hại ( Malware)  trên nhé .

 

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Khắc phục, sửa lỗi máy tính tự khởi động tự tắt

Khắc phục, sửa lỗi máy tính tự khởi động tự tắt

Vào một ngày nào đó, trong khi bạn đang sử dụng máy tính bỗng nhiên bạn thấy máy tính tự đột ngột tắt ngang và sau đó tự khởi động lên. Vậy phải chăng máy tính của bạn đã bị “hỏng” ?

Bài viết liên quan

  • Cách khắc phục, fix lỗi mở ổ đĩa bị Open With
  • IDM – Tắt IDM khởi động cùng Windows
  • IDM – Gỡ lỗi IDM tự động bắt link khi nghe nhạc, xem phim
  • Khắc phục, fix lỗi màn hình đen trên máy tính

Hầu hết mọi người khi thấy máy tính của mình gặp vấn đề này đều cảm thấy bực mình và không biết nguyên nhân chính gây ra lỗi này, sự cố này có thể là do nhiều nguyên nhân gây ra. Sau đây, taimienphi.vn sẽ liệt kê những nguyên nhân theo mức độ liên quan giảm dần, bạn có thể làm lần lượt các bước để kiểm tra xem vậy máy tính của mình đang thuộc nguyên nhân nào, và cách khắc phục lỗi máy tính tự Restart ra sao?

Nguyên nhân và cách fix lỗi máy tính tự bật/tắt

1. Nhiệt độ của máy tính quá cao

Hầu hết những phần cứng trên máy tính đều có một khoảng nhiệt độ tối đa mà nó có thể chịu được, nếu vượt quá thì dễ làm cho linh kiện bị hỏng. Chính vì vậy, cách thành phần trong máy tính đều được lập trình để khi nào đến mức nhiệt độ đó thì tự động tắt nguồn. Ví dụ nhiệt độ CPU thường là khoảng 750 C.

Thế nên đầu tiên bạn tải phần mềm đo nhiệt độ CPUID HWMonitortại đây.

Sau khi tải và cài đặt, phần mềm lên thì bạn sẽ thấy bảng sau:

khac phuc, sua loi may tinh tu khoi dong tu tat

Như bạn thấy trên hình, dòng 1 là nhiệt độ của bo mạch chủ. Nhiệt đô của nó đang là 66o C, dòng 2 là nhiệt độ CPU. Bạn xem thử nếu như chạy một lúc, theo dõi nhiệt độ CPU. Nếu nhiệt độ lên quá cao thì bạn nên mang ra ngoài cửa hàng máy tính nhờ các nhân viên bôi kem tản nhiệt cho CPU.

2. Nguồn điện không ổn định

Nếu như nguồn điện của bạn cung cấp dòng điện không ổn định ,chập chờn thì sẽ khiến cho các linh kiện như CPU ,RAM hoạt động cũng không ổn định và khiến máy tự tắt rồi tự bật lại.

Bạn cần kiểm tra xem công suất bộ nguồn của mình có công suất để cung cấp cho linh kiện hay không. Nếu như bộ nguồn quá yếu và máy có cắm card đồ họa rời –thành phần tiêu thụ nhiều điện nhất máy tính- thì bạn nên nâng  cấp 1 bộ nguồn khác mạnh hơn.

3. Máy tính bị nhiễm Virus

Có  một số loại virus nguy hiểm có thể làm tắt máy tính bạn đột ngột. Chính vì vậy bạn nên quét virus  máy tính bằng 1 số phần mềm quét virus nổi tiếng như  Kaspersky, AVG Antivirus…Tham khảo và chọn lựa một trong 10 phần mềm diệt Virus mạnh mẽ nhất năm 2014.

Trên đây là 3 nguyên nhân phổ biến mất gây ra tình trạng máy tính tự khởi động ngay sau khi tắt dành cho bạn tham khảo. Nếu máy tính của bạn gặp một trong 3 tình trạng này thì hãy thực hiện theo hướng dẫn của bài viết, còn nếu không bạn nên mang máy tính của mình ra các cửa hàng sửa máy tính gần nhất để có những biện pháp can thiệp kịp thời trước khi tình huống xấu là hỏng máy tính xảy ra.

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Khắc phục sự cố bàn phím Laptop gặp nước

Khắc phục sự cố bàn phím Laptop gặp nước

Bạn vô tình làm đổ một cốc nước vào bàn phím Laptop, đây là sự cố ngoài ý muốn nhưng nếu bạn không mau chóng tìm cách khắc phục thì hậu quả có thể là hỏng vĩnh viễn Laptop của bạn.

Trong đời sống thường ngày thì việc bạn vừa ăn hoặc uống trong khi đang sử dụng laptop là một việc rất bình thường. Thế nhưng một trong những tình huống “bất ngờ” nhất xảy ra là khi bạn vô tình làm đổ nước vào bàn phím laptop của mình. Vậy trong trường hợp đó thì liệu bạn đã biết cách xử lí ? Dưới đây là những cách bạn có thể áp dụng để xử lý laptop bị vô nước.

Khắc phục sự cố bàn phím Laptop dính nước

1. Tắt nguồn laptop và tháo pin ra:

loi ban phim dinh nuoc

Trong trường hợp laptop của bạn đang được cắm nguồn, việc đầu tiên là bạn phải ngắt laptop ra khỏi nguồn điện để tránh trường hợp bị chập điện làm hư hỏng linh kiện máy tính và có thể làm cho bạn bị điện giật. Tiếp sau đó bạn cần phải tắt laptop . Nếu như laptop của bạn không tắt được thì bạn cần bấm giữ phím Power để tắt máy ngay. Sau đó bạn lật laptop lên và tháo pin ra.

2. Tháo các thiết bị ngoại vi đang cắm vào máy tính qua cổng USB

Nếu như máy bạn đang sử dụng các thiết bị ngoại vi cắm qua cổng USB như chuột,USB ,… thì bạn cần phải tháo chúng ra ngay.

3. Lật ngược laptop lên trong vài phút

Việc làm này sẽ tránh cho nước xâm nhập vào bên trong laptop.

4. Dùng vải mềm để lau vào những vị trí có nước ở trên bàn phím

Nếu như laptop của bạn sử dụng tấm bảo vệ bàn phím thì bạn cần tháo tấm đó ra và dùng bông tăm để lau khô nước ở các khe giữa các nút của bàn phím.

5. Tiến hành tháo laptop ra

Nếu bạn phát hiện nước đã xâm nhập sâu vào bên trong của máy thì việc tiến hành tháo và lau khô các thành phần bên trong là hết sức cần thiết.  Đầu tiên bạn cần xác định được vị trí các ốc và dung tua-vít để tháo nắp lưng laptop ra.

Khi đã tháo nắp xong, bạn nhìn xem phần nào của laptop đã bị dính nước và dùng khăn lau sạch rồi phơi thiết bị ra ngoài nơi khô thoáng, có nắng trong khoảng 5-6 tiếng. Và điều đặc biệt cần chú ý là không được sử dụng máy sấy để làm khô vì nhiệt độ cao sẽ làm cho các linh kiện bị hỏng.

Sau khi phơi ngoài nắng 1 thời gian để đảm bảo là nước đã bốc hơi hết, bạn cần lắp ráp lại laptop và thử khởi động lên. Trong trường hợp nếu như máy không thể khởi động lên được do bị hư hỏng nặng thì cách tốt nhất là bạn nên đưa đến trung tâm sửa chữa máy tính để nhân viên ở đó có thể sửa cho bạn.

Kết luận: Sau khi thực hiện đầy đủ cả 5 thao tác trên, bạn tiến hành lắp đặt lại bàn phìm như bình thường. Chú ý, ngay sau khi gặp laptop dính nước bạn phải tiến hành ngay lập tức, tránh để lâu nước đã dính vào rất khó để “cứu” bàn phím.

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Các kiểu bộ nhớ

Các kiểu bộ nhớ

nguồn  ;Wikipedia

Mục lục

  • 1 Các kiểu bộ nhớ
  • 2 Phân cấp bộ nhớ
  • 3 Bộ nhớ đệm nhanh
    • 3.1 Ánh xạ bộ nhớ đệm nhanh
    • 3.2 Chính sách thay thế
    • 3.3 Thời gian truy cập hiệu quả
    • 3.4 Khi nào bộ đệm bị hỏng
    • 3.5 Chính sách ghi bộ đệm
  • 4 Bộ nhớ ảo
    • 4.1 Phân Trang
    • 4.2 Thời gian truy xuất phân trang
    • 4.3 Kết hợp bộ đệm, tìm kiếm bộ đệm, phân trang
    • 4.4 Thuận lợi, khó khăn của phân trang, bộ nhớ ảo
    • 4.5 Phân đoạn
    • 4.6 Tổng quan bộ nhớ ảo
  • 5 Một ví dụ thực tế về quản lý bộ nhớ
  • 6 Tổng kết
  • 7 Tham khảo

Mô hình Von Neumman

Hầu hết máy tính được xây dựng sử dụng mô hình Von Neumann, với trung tâm là bộ nhớ. Chương trình thực thi quá trình được lưu trong bộ nhớ. Chúng ta biết bộ nhớ là cấu trúc logic như 1 dãy các điểm, với địa chỉ từ 0 đến tối đa kích thước bộ nhớ mà vi xử lý có thể đánh địa chỉ. Trong phần này chúng ta sẽ xem xét các loại bộ nhớ khác nhau và cách mà mỗi cái là một phần của hệ thống phân cấp bộ nhớ. Sau đó chúng ta sẽ xem xét một bộ nhớ đệm nhanh (1 bộ nhớ đặc biệt tốc độ cao) và phương thức tận dụng bộ nhớ tối đa của các bộ nhớ ảo thực thi thông qua phân trang.

Các kiểu bộ nhớ

Tại sao lại có nhiều loại bộ nhớ khác nhau như vậy? Đó là bởi vì công nghệ liên tục phát triển để cố gắng bắt kịp với các cải tiến trong thiết kế CPU – tốc độ của bộ nhớ phải theo kịp CPU hoặc bộ nhớ trở thành nút cổ chai. Trong những năm gần đây, chúng ta đã nhìn thấy rất nhiều cải tiến trong CPU. Như vậy bộ nhớ cũng phải phát triển để theo kịp được tốc độ của CPU, trong đó bộ nhớ chính là bộ nhớ chậm nhất. Nhưng việc cải tiến bộ nhớ chính để theo kịp với CPU không phải là vấn đề thực sự quan trọng bởi vì lợi ích của bộ nhớ đệm nhanh (cache memory) và phân cấp bộ nhớ (THE MEMORY HIERARCHY). Bộ nhớ đệm nhanh là một loại bộ nhớ nhỏ, tốc độ cao (đồng nghĩa với chi phí cao). Đó là loại bộ nhớ được sử dụng thường xuyên để truy cập dữ liệu. Việc bổ sung chi phí bằng cách sử dụng các công nghệ tiên tiến, nhanh chóng cho bộ nhớ không phải lúc nào cũng hợp lý bởi vì bộ nhớ chậm hơn có thể thường xuyên ẩn bởi hệ thống bộ nhớ đệm nhanh hiệu suất cao. Tuy nhiên, trước khi chúng ta thảo luận về bộ nhớ đệm nhanh, chúng ta sẽ giải thích các công nghệ bộ nhớ khác nhau.

Mặc dù có nhiều công nghệ bộ nhớ tồn tại nhưng chỉ có duy nhất 2 kiểu bộ nhớ cơ bản là RAM (Random Access Memory)và ROM (Read Only Memory). RAM là loại bộ nhớ đọc ghi. RAM là bộ nhớ mà một máy tính cần có. RAM được sử dụng để lưu trữ chương trình và dữ liệu cần thiết để máy tính có thể thực hiện các chương trình, nhưng RAM là bộ nhớ không ổn định và bị mất các thông tin khi điện bị ngắt. Hiện nay, có 2 loại chip chính được chế tạo để sử dụng các loại RAM: và (staticdynamic RAM).

DRAM được xây dựng từ các tụ điện tí hon. DRAM đòi hỏi cung cấp điện năng liên tục mỗi vài mili giây để duy trì dữ liệu. SRAM thì ngược lại, duy trì nội dung cho tới khi chừng nào vẫn còn có điện. SRAM bao gồm các mạch tương tự. SRAM nhanh hơn và đắt hơn DRAM. Tuy nhiên người thiết kế sử dụng DRAM bởi vì nó có thể lưu trữ nhiều bit trên 1 chip, tiêu tốn ít điện năng, và tỏa nhiệt ít hơn SRAM. Vì những lí do đó, cả 2 công nghệ này được kết hợp sử dụng: DRAM cho bộ nhớ chính và SRAM cho bộ nhớ cache. Hoạt động cơ bản của tất cả bộ nhớ DRAM đều tương tự nhau, nhưng vẫn có nhiều đặc thù.

Các loại DRAM:

Các loại SRAM:

  • SRAM đồng bộ
  • SRAM không đồng bộ
  • pipeline burst SRAM

Ngoài bộ nhớ RAM, các máy tính còn chứa 1 bộ nhớ nhỏ ROM lưu trữ những thông tin quan trọng cần thiết cho hoạt động hệ thống. ROM ổn đinh và không bị mất dữ liệu. Loại bộ nhớ này cũng được sử dụng trong hệ thống nhúng hoặc bất cứ hệ thống nào nơi mà các chương trình không cần thay đổi. Nhiều gia dụng, đồ chơi, ô tô sử dụng ROM để duy trì thông tin khi điện bị ngắt. ROM cũng được sử dụng rộng rãi trong máy tính và các thiết bị ngoại vi như máy in laser, trong đó lưư trữ các font trong ROM. Các loại ROM cơ bản:

  • Programmable ROM (PROM) – 1 biến thể của ROM có thể được lập trình bởi người sử dụng với các thiết bị phù hợp. Trong khi ROM được cài đặt bằng phần mềm thì PROM có thể cài đặt vào chương trình vào chip. Sau khi lập trình, dữ liệu và thông tin trong PROM không thể thay đổi.
  • EPROM erasable PROM, là PROM có thể xoá đi và lập trình lại (yêu cầu một công cụ đặc biệt là tia cực tím). Để lập trình lại EPROM, toàn bộ chip trước tiên phải bị xoá hoàn toàn.
  • EEPROM electrically erasable PROM loại bỏ đi nhiều nhược điểm của EPROM, không cần công cụ đặc biệt để xoá (nó được thực thi bằng cách áp dụng một trường điện) và bạn chỉ có thể xoá các phần của chip, một byte tại 1 thời điểm.
  • Flash memory là bộ nhớ có thêm các tính năng như ghi hoặc xoá cả 1 khối, xoá bỏ 1 byte tại 1 thời điểm giới hạn. Điều này khiến flash memory nhanh hơn EEPROM.

Phân cấp bộ nhớ

Một trong những điều quan trọng được quan tâm nhất trong sự hiểu biết khả năng hiệu suất của bộ nhớ hiện đại là bộ nhớ phân cấp. Không phải tất cả các bộ nhớ đều được tao ra ngang nhau, 1 số kém hiệu quả hơn và rẻ hơn. Để giải quyết sự chênh lệch này, máy tính ngày nay kết hợp các kiểu bộ nhớ để cung cấp hiệu suất cao nhất với giá thành ít nhất. Cách tiếp cận này được gọi là bộ nhớ phân cấp. Bộ nhớ càng nhanh thì càng đắt. Bằng việc sử dụng bộ nhớ chia sẻ, với mỗi tốc độ truy cập và dung lượng khác nhau, 1 hệ thống máy tính có thể năng cao hiệu suất trên cả khả năng có thể của chúng khi mà không kết hợp các loại khác nhau lại. Hệ thống bộ nhớ phân cấp bao gồm các thanh ghi, cache, bộ nhớ chính và bộ nhớ phụ.

Máy tính ngày nay có bộ nhớ nhỏ tốc độ cao gọi là cache, nơi mà dữ liệu được lưu trữ thường xuyên. Cache kết nối tới bộ nhớ lớn hơn – bộ nhớ chính, bộ nhớ có tốc độ tầm trung. Bộ nhớ này được bổ sung bới 1 bộ nhớ phụ, kết hợp với hard disk và các phương tiện có thể tháo dời khác nhau (various removable media). Bằng việc sử dụng hệ thống phân cấp, 1 bộ nhớ có thể nâng cao tốc độ truy cập, chỉ sử dụng 1 số nhỏ chip tốc độ nhanh. Nó cho phép người thiết kế tạo ra máy tính hiệu suất chấp nhận được với giá thành hợp lý.

Chúng ta phân loại bộ nhớ dựa trên “khoảng cách” từ nó tới bộ xử lý, với khoảng cách được định nghĩa bằng số vòng máy đòi hỏi để truy cập. Bộ nhớ càng gần bộ xử lý thì càng nhanh. Và ngược lại. Công nghệ chậm sẽ sử dụng bộ nhớ ở xa còn công nghệ nhanh sẽ sử dụng bộ nhớ gần bộ vi xử lý. Công nghệ càng tốt, bộ nhớ càng nhanh và càng đắt tiền. Bộ nhớ nhanh hơn thì sẽ nhỏ hơn bộ nhớ chậm và giá thành càng cao.

Dưới đây là những thuật ngữ được sử dụng khi miêu tả bộ nhớ phân cấp:

  • Hit – Dữ liệu yêu cầu ở 1 cấp độ bộ nhớ (thông thường, chúng ta quan tâm đến tỉ lệ hit chỉ cho bộ nhớ cấp cao hơn).
  • Miss – Dữ liệu yêu cầu không tìm thấy trong cấp độ bộ nhớ.
  • Hit rate – Tỉ lệ phần trăm truy cập bộ nhớ được tìm thấy trong 1 cấp độ bộ nhớ.
  • Miss rate – Tỉ lệ phần trăm truy cập bộ nhớ không được tìm thấy trong 1 cấp độ bộ nhớ. Note: Miss Rate = 1 – Hit Rate
  • Hit time – Số lần yêu cầu để truy cập thông tin yêu cầu trong 1 cấp độ bộ nhớ.
  • Miss penalty – Thời gian cần thiết để xử lý 1 miss, bao gồm thay thế 1 khối trong 1 cấp độ trên của bộ nhớ, cộng với thời gian đưa dữ liệu yêu cầu tới bộ xử lý. (Thời gian để xử lý 1 miss lớn hơn time xử lý 1 hit).

Đối với dữ liệu bất kì, bộ xử lý sẽ gửi yêu cầu của nó tới phần bộ nhớ nhanh nhất, nhỏ nhất (cache, bởi vì register dành cho mục đích đặc biệt hơn). Nếu dữ liệu được tìm thấy trong cache, nó sẽ nhanh chóng được đưa vào CPU. Nếu nó không ở trong cache, yêu cầu sẽ được gửi tới bộ nhớ thấp hơn trong hệ thống và quá trình tìm kiếm lại bắt đầu. Nếu dữ liệu được tìm thấy ở cấp độ này, một khối dữ liệu ở đó sẽ được đưa vào cache, và cứ thể tiếp tục. Ý tưởng chính ở đây là khi cấp độ thấp hơn của hệ thống phân cấp trả lời yêu cầu từ cấp độ cao hơn cho nội dung ở vị trí X, chúng cũng gửi đi cùng 1 thời điểm, dữ liệu được đặt ở địa chỉ X + 1, X + 2… Cứ như vậy, trả lại toàn bộ khối dữ liệu tới cấp độ bộ nhớ cao hơn. Hi vọng rằng dữ liệu thêm này sẽ được tham chiếu tới trong tương lai gần. Bộ nhớ chia sẻ thiết thực bởi vì các chương trình có xu hướng sở hữu 1 vùng biết đến cục bộ (locality), cái mà thường xuyên cho phép bộ xử lý truy cập tới dữ liệu được trả lại cho địa chỉ X+1, X+2… Vì vậy, mặc dù đó là 1 miss, vẫn có thể có 1 số hit trong bộ nhớ trên khối mới được truy xuất.

Bộ nhớ đệm nhanh

Bộ xử lý máy tính rất nhanh và liên tục đọc thông tin từ bộ nhớ có nghĩa là nó phải chờ thông tin đến vì thời gian truy cập bộ nhớ chậm hơn tốc độ bộ xử lý. Một bộ nhớ đệm là bộ nhớ rất nhỏ, tạm thời và nhanh, cái mà bộ xử lý sử dụng để lấy thông tin mà nó cần trong một khơảng thời gian ngắn. Có rất nhiều ví dụ xung quanh chúng ta.

VD: Trong một ngôi nhà và những công cụ để trong gara và bạn cần sửa lại tầm hầm. Nó sẽ cần nhiều công cụ như: mũi khoan, bộ vặn đai ốc, cưa, ốc vít… Việc đầu tiên bạn nghĩ tới là đo và cắt các tấm gỗ, bạn chạy ra ngoài gara lấy cái thước đo từ kho lưu trữ, chạy xuống tầm hầm đo gỗ rồi quay trở lại nhà xe. Bỏ cái thước dây và lấy cái cưa sau đó trở lại tầng hầm với cái cưa và cắt gỗ. Bạn quyết định vặn ốc vít nối các mảnh gỗ lại. Bạn chạy lại gara để lấy khoan quay xuống tần hầm, khoan các lỗ để đặt ốc vít trở lại nhà để xe lấy cái vặn ốc, sau đó phát hiện ra là sai kích thước trở lại nhà để xe lấy cái khác và chạy lại. Bạn có làm theo cách này không? Nếu cần một cái vặn ốc có lẽ sẽ cần nhiều kích cỡ khác nhau tại sao không lấy toàn bộ những cái vặn ốc. Tiến thêm một bước tại sao không lấy một gói nhỏ bao gồm các công cụ cần thiết vào tầng hầm. Nó sẽ nhanh hơn rất nhiều. Bạn chỉ cần có bộ nhớ đệm. Một công cụ để dễ dàng truy cập và sử dụng nhanh chóng! Những công cụ mà bạn đang có ít có khả năng hơn để sử dụng vẫn còn được lưu giữ trong một địa điểm đó là đi xa hơn và đòi hỏi nhiều thời gian hơn để truy cập vào.

Đây là tất cả những gì mà bộ nhớ đệm phải làm, nó lưu trữ dữ liệu được truy cập và dữ liệu có thể được truy cập bởi CPU nhanh hơn và gần gũi hơn bộ nhớ. Bộ nhớ cache làm việc trên cùng một nguyên tắc cơ bản như là các ví dụ trước bằng cách sao chép dữ liệu thường xuyên được sử dụng vào bộ nhớ cache hơn là một đòi hỏi quyền truy cập vào bộ nhớ chính, để lấy các dữ liệu. Copy những dữ liệu cần sử dụng vào bộ đệm hơn là truy cập tới bộ nhớ chính để truy xuất dữ liệu. Bộ đệm có thể được tổ chức như cuốn sổ địa chỉ.

Kích cỡ của bộ nhớ cache bộ nhớ có thể khác nhau về độ lớn. Một điển hình của máy tính cá nhân cấp hai (L2) là bộ nhớ cache 256K hoặc 512K. Cấp bậc một (L1) là bộ nhớ cache nhỏ hơn, điển hình là 8K hay 16K. Bộ nhớ cache L1 soáng chung về việc xử lý, trong khi L2 cache soáng chung giữa CPU và bộ nhớ chính. Bộ nhớ cache L1 được, do đó, nhanh hơn bộ nhớ cache L2. Các mối quan hệ giữa L1 và L2 cache có thể được minh họa bằng cách sử dụng của chúng tôi cửa hàng Grocery ví dụ: Nếu các cửa hàng chính là bộ nhớ, bạn có thể xem xét tủ lạnh các L2 cache, và trên thực tế các bàn ăn bộ nhớ cache L1.

Mục đích của vùng đệm là tăng tốc độ truy cập bộ nhớ bằng cách lưu trữ các dữ liệu cần sử dụng với CPU thay vì lưu trong bộ nhớ chính. Dù kích cỡ của bộ nhớ đệm không lớn như bộ nhớ chính nhưng nó nhanh hơn. Bộ nhớ chính được tạo bằng DRAM với thời gian truy cập là 60ns.Còn bộ đệm được tạo bằng SRAM truy cập nhanh hơn DRAM với chu kỳ ngắn hơn (một điển hình của thời gian truy cập bộ nhớ cache là 10ns).

Cache hiện không cần phải quá lớn để thực hiện tốt. Một quy tắc chung của bộ nhớ đệm nhở đủ để cho tổng chi phí trung bình cho mỗi bit, gần đó là của chính bộ nhớ, nhưng đủ lớn để mang lại lợi ích. Vì bộ nhớ nhanh này là hơi đắt tiền, nó không khả thi để sử dụng công nghệ tìm thấy trong bộ nhớ cache bộ nhớ để xây dựng các bộ nhớ chính.

Điều gì làm cho bộ nhớ cache “đặc biệt”? Cache không được truy cập theo địa chỉ mà được truy cập theo nội dung. Vì lý do này, bộ nhớ cache đôi khi được gọi là CAM. Theo hầu hết các chương trình lập bản đồ bộ nhớ cache, bộ nhớ cache mục phải được kiểm tra hoặc tìm kiếm nếu giá trị được yêu cầu được lưu trong bộ nhớ cache. Để đơn giản hóa việc này, quá trình tìm những dữ liệu, lập bản đồ bộ nhớ đệm sử dụng các thuật toán khác nhau.

Ánh xạ bộ nhớ đệm nhanh

Bộ nhớ đệm nhanh lưu trữ những dữ liệu có ích tuy nhiên nó sẽ trở thành vô ích nếu CPU không tìm thấy nó. Khi truy cập vào dữ liệu hoặc các tập lệnh, CPU lần đầu tiên tạo ra một địa chỉ bộ nhớ chính. Nếu dữ liệu đã được sao chép vào bộ nhớ cache, các địa chỉ của dữ liệu trong bộ nhớ cache không giống như là địa chỉ chính của bộ nhớ. Ví dụ: dữ liệu được cấp phát tại địa chỉ trong bộ nhớ chính là 2E3 có thể được cấp phát rất sớm trong bộ nhớ đệm. Làm thế nào CPU tìm ra dữ liệu khi nó đã được sao chép vào bộ nhớ đệm? CPU sử dụng một chương trình ánh xạ “chuyển đổi” các địa chỉ của bộ nhớ chính vào một vị trí bộ nhớ cache.

Việc chuyển đổi đia chỉ được thực hiện bằng cách vào trong các bit trong bộ nhớ địa chỉ chính. Chúng tôi chia các bit ra làm hai phần riêng biệt gọi là các trường. Tùy thuộc vào chương trình ánh xạ, chúng tôi có thể có hai hoặc ba trường. Làm thế nào chúng tôi sử dụng các trường này phụ thuộc vào chương trình ánh xạ đang được sử dụng. Các chương trình ánh xạ xác định nơi mà các dữ liệu được đặt ban đầu khi nó được sao chép vào bộ nhớ cache và cũng có thể cung cấp một phương pháp cho CPU để tìm kiếm trước đó đã sao chép dữ liệu khi tìm kiếm bộ nhớ đệm.

Làm thế nào để chúng ta sử dụng được các trường trong bộ nhớ địa chỉ chính. Một trường trong bộ nhớ địa chỉ chính chỉ ra cho ta thấy cái dữ liệu ở bên trong nếu nó ở trong bộ nhớ cache goi là cache hit nếu không gọi là cache miss. Các khối đệm tham chiếu được kiểm tra nếu nó hợp lệ. Kết thúc nó sẽ đưa ra các bít tương ứng với mỗi khối đệm. Giá trị Bit không nghĩa là khối đệm đó không hợp lệ, và phải truy cập bộ nhớ chính. Bit một có nghĩa là hợp lệ. Sau đó chúng ta so sánh thẻ trong khối đệm tới các thẻ của địa chỉ. Nếu các thẻ giống nhau ta có thể tìm ra khối bộ đệm mong muốn (chúng tôi có một bộ nhớ cache hit). Lúc này chúng ta cần xác định từ mong muốn của khối. Tất cả các chương trình ánh xạ đều yêu cầu trường từ.

Ba chương trình ánh xạ bộ nhớ chính:

  • Cache ánh xạ trực tiếp
Ánh xạ trực tiếp sử dụng tiếp cận module. Bởi vì có nhiều khối bộ nhớ chính hơn bộ nhớ đệm. Cần rõ ràng rằng các khối bộ nhớ chính cấp phát cho bộ nhớ đệm. Ánh xạ trực tiếp khối X của bộ nhớ chính tới khối Y của bộ nhớ đệm, mod N với N là tổng số khối trong bộ nhớ đệm.
Cả hai khối ‘0’, ’10’ đều trỏ tới khối ‘0’ của khối ‘0’ của bộ đệm làm thế nào để phân biệt. Cả hai khối đều được lưu trong bộ đệm và được nhận ra bằng các thẻ được khai báo trước.
Để thực hiện ánh xạ trực tiếp các bit đại chỉ bộ nhớ chính được chia làm ba trường. Độ dài của mỗi khối phụ thuộc vào đặc điểm vật lý của bộ nhớ chính và đệm. Trường word hay offset chứa các từ để nhận dạng các khối và chứa số bit tương ứng. Khối ‘0’ chứa word trong bộ nhớ chính và được nhận ra = 00000000.Khi một khối của bộ nhớ chính được copy vào bộ nhớ cache, trường tag chứa cái khối và mã để nhận ra khối này. Tổng cộng có ba trường
  • Bộ nhớ đệm nhanh kết hợp hoàn toàn (Fully Associative Cache)
Bộ nhớ đệm nhanh ánh xạ trực tiếp không đắt như các bộ đệm khác vì kịch bản ánh xạ không đòi hỏi bất kỳ sự tìm kiếm. Khi địa chỉ bộ nhớ chính được chuyển sang bộ nhớ đệm, CPU biết chính xác vị trí để tìm trong bộ đệm bằng cách kiểm tra đơn giản số bit trong các trường. Gần giống cuốn sổ địa chỉ các trang thường có chỉ mục theo alphabetic.
Sử dụng ánh xạ tương đối địa chỉ bộ nhớ chính được chia ra làm hai phần: tag, word hình 6.8 trường word chứa ba bit nhưng trường tag là mười một bit. Khi bộ đệm được tìm kiếm, trường tag của bộ nhớ chính sẽ được so sánh với trường tag đúng của bộ đệm. Nếu không đúng ta sẽ có cache miss.
Tạo bộ nhớ tương ứng: Bộ đệm tương đối nhanh, phức tạp nhưng nó rất đắt. Mặc dù ánh xạ trức tiếp không đắt nhưng nó rất hạn chế giới hạn bộ đệm sử dụng hỗ trợ chạy 1 chương trình sử dụng khối ‘0’, khối ’16’ sau đó thực thi các câu lệnh. Bộ nhớ đệm nhanh kết hợp hoàn toàn cho phép một khối từ bộ nhớ chính có thể ở bất cứ đâu. Tuy nhiên nó yêu cầu thẻ lớn được chứa khối thêm vào đó yêu cầu phần cứng để tìm tất cả các khối của tạm thời.
  • Tạo bộ nhớ đệm nhanh tương ứng
Bộ nhớ đệm nhanh tương đối nhanh, phức tạp nhưng nó rất đắt. Mặc dù ánh xạ trức tiếp không đắt nhưng nó rất hạn chế giới hạn bộ đệm sử dụng hỗ trợ chạy một chương trình sử dụng khối ‘0’, khối ’16’ sau đó thực thi các câu lệnh. Bộ nhớ đệm nhanh kết hợp hoàn toàn cho phép một khối từ bộ nhớ chính có thể ở bất cứ đâu. Tuy nhiên nó yêu cầu thẻ lớn được chứa khối thêm vào đó yêu cầu phần cứng để tìm tất cả các khối của tạm thời
Ngoài ra còn chương trình ánh xạ thứ ba là N-way set associative cache map-ping kết hợp của hai phương pháp trên giống ánh xạ trực tiếp sử dụng địa chỉ để ánh xạ tới khối. Khác thay vì ánh xạ tới một khối đơn thì nó ánh xạ tới một tập các khối. Tất cả các khối phải có cùng kích cỡ

Chính sách thay thế

Trong bộ đệm ánh xạ trực tiếp nếu có sự bất đồng giữa các khối đệm mà chỉ có một hành động có thể thực hiện. Khối đã tồn tại trong bộ đệm sẽ bị cho ra ngoài cache để tạo phòng cho khối mới. Tiến trình đó là sự thay thế. Với ánh xạ trực tiếp không cần chính sách thay thế vì việc cấp phát mỗi khối mới là xác định lại. Tuy nhiên với fully associative và tạo bộ đệm tương ứng thì cần có giả thuật thay thế để xác định khối bị loại khỏi cache.

Thời gian truy cập hiệu quả

Hành động phân cấp bộ nhớ được tính bằng thời gian truy cập hiệu quả (EAT). VD: thời gian truy cập cache là 10ns, và bộ nhớ chính là 200ns độ cache hit là 99%.

Công thức tính EAT:

H: cache access hit

AccessC: cache access time

AccessMM: main memory access time

Công thức này có thể mở rộng ra để áp dụng ở bộ nhớ tầng ba, tầng bốn.

Khi nào bộ đệm bị hỏng

Khi có nhiều chương trình được thực thi thì bộ đệm sẽ làm việc rất tốt, tuy nhiên nếu có nhiều chương trình thực thi lỗi được chạy thì bộ đệm bị hỏng và việc phân cấp bộ nhớ rất chậm.

Chính sách ghi bộ đệm

Để xác định khối để thay thế người thiết kề phải quyết định làm gì với những khối bẩn của bộ nhớ đệm hoặc là khối bị sửa. Khi tiến trình ghi tới bộ nhớ chính, dữ liệu có thể ghi vào bộ nhớ đệm Có hai chính sách ghi cơ bản: • Write-through: cập nhật cả bộ nhớ đệm và bộ nhớ chính mỗi lần ghi. Ghi chậm hơn write-back nhưng đảm bảo bộ đệm phù hợp với bộ chính không thuận lợi là phải truy cập tới bộ nhớ chính • Write- back: cập nhật những khối trong bộ nhớ chính khi những khối trong bộ nhớ đệm bị loại khỏi cache. Nhanh hơn write-throught do không tốn thời gian ghi ra bộ nhớ đệm. Không thuận lợi vì dữ liệu bộ đệm và bộ nhớ chính có thể không cùng giá trị khi một tiến trình bị hỏng trước khi ghi tới bộ nhớ chính thực thi xong, dữ liệu ở bộ đệm bị mất.

Bộ nhớ ảo

Bộ nhớ ảo là bộ đệm trong máy tính giúp máy tính chạy nhanh hơn giống như bộ đệm. Nhờ bộ nhớ ảo mà RAM có thể sử dụng tốt hơn, chạy ứng dụng nặng. Phân trang trên 1 vùng đĩa cứng để lưu dữ liệu đã xử lý, giảm gánh nặng cho RAM. Ghi nhớ rằng địa chỉ của các thanh ghi phải được chuyển qua bộ đệm để CPU xử lý.

Một số thuật ngữ:

  • Địa chỉ Ảo: Địa chỉ logictiến trình dùng.
  • Địa chỉ Vật lý: Địa chỉ thật sự trên RAM.
  • Ánh xạ: Chuyển từ những địa chỉ ảo sang địa chỉ thật, gần giống với ánh xạ bộ nhớ đệm.
  • Khung phân trang: Những trang kích thước bằng nhau được chia ra từ bộ nhớ chính.
  • Trang: Những đoạn nhớ trong bộ nhớ ảo lưu trên đĩa cứng.
  • Phân Trang: Tiến trình sao lưu trang ảo từ đĩa cứng vào khung trang trong bộ nhớ chính.
  • Phân mảnh: Bộ nhớ trở nên không cần thiết.
  • Sai sót trang: 1 sự kiện xảy ra khi trang yêu cầu không có trong bộ nhớ chính và phải copy từ đĩa cứng vào bộ nhớ chính.

Phân Trang

Ý tưởng khá đơn giản: Khởi tạo vùng nhớ trên bộ nhớ vật lý để xử lý, lưu giữ thông tin trong 1 bảng. Mỗi tiến trình đều có 1 bảng riêng gồm N dòng, N là số trang ảo mà tiến trình cần. Mỗi trang có 2 thuộc tính: bit và số trang. Trang ảo cùng kích cỡ với trang vật lý. Bộ nhớ tiến trình được chia thành những trang cùng kích cỡ cố định lưu giữ thông tin tiến trình để xử lý.
Các bước truy cập địa chỉ ảo:

  • Trích số trang, offset từ địa chỉ ảo. Dịch số trang sang bộ nhớ thực bằng cách truy suất bảng trang.
  • Tìm kiếm số trang trong bảng trang.
  • Kiểm tra bit của trang đó. Nếu bit = 0, hệ thống tự sinh ra 1 trang lỗi và hệ điều hành phải tìm được trang được đề nghị trên đĩa tron cây khung trang.
  • Sao lưu và cập nhật lại bảng trang trong bộ nhớ chính.
  • Nếu bit=1 tức là trang trong bộ nhớ chính.
  • Thay thế số trang ảo bằng số trang thực.
  • Truy xuất dữ liệu ở trang vậy lý thực và điền vào trang ảo Địa chỉ ảo gồm 8 bit và chia thành 2 trường. Bộ nhớ chính có 4 trang, bộ nhớ ảo ánh xạ lên bộ nhớ chính.

Các trang trong bảng trang được đánh dấu trong khung trang theo bit mà bộ nhớ ảo ánh xạ vào.

Vd: bit 0 bộ nhớ ảo ánh xạ vào bit 2 bộ nhớ thực. Khung trang số 2 được điền vào bảng trang, do nó tồn tại trên bộ nhớ chính nên bit được ghi là 1. 3 bit đầu trong 8 bit bộ nhớ ảo dành cho số trang. 5 bit sau dành cho offset được tính theo số bù 2 được ghi vào thanh ghi cơ sở.
Tập tin:Ví dụ về 1 địa chỉ ảo gồm 8 bit và kích cỡ = 32 từ.JPG

Địa chỉ ảo gồm 3 bit phân trang và 5 bit offset.JPG
Vd: 000 01101 = #13. Địa chỉ 0 của tiến trình chứa dữ liệu A được ánh xạ qua bộ nhớ chính tại bit thứ 4. CPU sẽ phải chuyển từ địa chỉ ảo 0 sang địa chỉ vật lý 4.

Bảng trang lưu khung trang được ánh xạ từ các bít địa chỉ từ bộ nhớ ảo sang bộ nhớ chính: vd trang 0 ánh xạ sang trang 2,bit trong bảng trang là 1 (do trên bộ nhớ vật lý). Ánh xạ thanh ghi 4 bits từ bộ nhớ ảo sang bộ nhớ chính.

Vd: 1010 trang thứ 6 trong bộ nhớ ảo sang khung trang thứ 3 trong bộ nhớ chính. 1 địa chỉ ảo có 13 bits, 3 bits đầu dành cho số trang và 10 bits sau cho offset. 1 địa chỉ thực có 12 bits, 2 bits đầu là khung trang trong bộ nhớ chính, 10 bits sau cho offset. Khung trang càng lớn thì bảng trang càng ít nhưng sẽ lãng phí bộ nhớ nếu quá lớn.

Thời gian truy xuất phân trang

EAT = Effective Access Time. Chúng ta cần thanh ghi EAT khi sử dụng bộ nhớ ảo. Khi 2 vùng nhớ vật lý được truy suất, 1 tham chiếu tới bảng trang, 1 tham chiếu đến dữ liệu mong muốn. Giả sử bộ nhớ chính truy suất cần 200ns và tỷ lệ lỗi khung trang là 1%, 99% còn lại ta tìm được trang cần trong bộ nhớ. Cần 10ms để truy suất 1 trang không có trong bộ nhớ bao gồm chuyển trang, cập nhật trang và truy suất dữ liệu. EAT =.99(200ns + 200ns) +.01(10ms) = 13.960ns. Thậm chí nếu 100% trang ở trong bộ nhớ chính thì: EAT = 1.00(200ns + 200ns) = 400ns.

Tập tin:Trạng thái hiện tại của TLB ( translation look-aside buffer ).JPG

Trạng thái hiện tại của bộ đệm chuyển đổi.JPG‎

Truy suất bảng trang phải chi phí thời gian truy suất bộ nhớ chính vì nó được lưu trên bộ nhớ chính Có thể làm tăng tốc độ nhờ tìm kiếm bảng trang nhờ bộ đệm chuyển đổi translation look-aside buffer – bộ đệm chuyển đổi.

Các bước là: tìm số trang, offset từ địa chỉ ảo, tìm số trang ảo trong TLB, nếu thấy thì điền offset vào khung trang vật lý và truy suất vùng nhớ. Nếu không thấy thì qua bảng trang tìm kiếm trong bộ nhớ chính, nếu không có trong bộ nhớ chính tạo trang lỗi và khởi động lại khi trang đó được tìm thấy.

Kết hợp bộ đệm, tìm kiếm bộ đệm, phân trang

Bởi vì 1 bảng tìm kiếm bộ đệm có thể gây lẫn lộn, đưa nhiều thông tin gây nhầm lẫn. Giải pháp là tập hợp tất cả các phương pháp lại. Khi CPU tạo ra 1 địa chỉ nó là địa chỉ chương trình hoặc là địa chỉ ảo, địa chỉ ảo này phải được chuyển thành địa chỉ thật trước khi nó được sử dụng. Có 2 cách: sử dụng bảng dịch tìm kiếm bộ đệm để tìm khung trang mới được lưu trữ bao gồm số trang, khung trang. Nếu khung trang bị bỏ lỡ thì có thể dùng bảng trang để tìm khung trang tương ứng trong bộ nhớ chính. Số khung trang này sau đó sẽ được kết hợp với offset trong địa chỉ ảo để tạo ra địa chỉ thật.

Có hai khả năng để lấy dữ liệu:

  1. Tìm kiếm để xem có bộ nhớ cache dữ liệu.
  2. Trên một bộ nhớ cache bỏ lỡ, hãy vào phần chính của bộ nhớ vị trí khác để lấy lại dữ liệu (thường bộ nhớ đệm được cập nhật vào thời điểm này là tốt nhất).

Thuận lợi, khó khăn của phân trang, bộ nhớ ảo

Trong Phần “Thời gian truy suất phân trang”, chúng tôi đã thảo luận cách thức triển khai thực hiện thông qua bộ phân trang. Cho biết thêm một tham chiếu bộ nhớ khi truy cập vào dữ liệu. Tuy nhiên, ngay cả với một tỉ lệ cao nhấn trong bộ đệm chuyển đổi, quá trình này vẫn còn dịch phí.
Bất lợi khác của bộ nhớ ảo và phân trang là tiêu tốn tài nguyên hơn (bộ nhớ để lưu trữ trên trang bảng). Trong trường hợp (nhiều chương trình chạy 1 lúc), các bảng trang có thể mất một phần của bộ nhớ vật lý. Bộ nhớ ảo yêu cầu phần cứng và hệ điều hành hỗ trợ.

Lợi ích của sử dụng bộ nhớ ảo phải lớn hơn bất lợi trong việc sử dụng hệ thống máy tính. Đơn giản là chương trình không còn bị giới hạn bởi các số lượng bộ nhớ vật lý có sẵn. Bộ nhớ ảo cho phép chúng ta chạy các chương trình cá nhân thứ mà địa chỉ ảo lớn hơn địa chỉ vật lý (Trong thực tế, một trong những quá trình này cho phép chia sẻ bộ nhớ vật lý với chính nó). Làm cho nó dễ dàng hơn nhiều để viết các chương trình do các lập trình viên không còn có thể lo lắng về các địa chỉ vật lý không gian hạn chế.

Bởi vì mỗi chương trình đòi hỏi ít bộ nhớ vật lý, bộ nhớ ảo cũng cho phép các chương trình cùng một lúc. Điều này cho phép chúng ta chia sẻ các máy tính trong quá trình có tổng số địa chỉ không gian kích thước vượt quá kích thước bộ nhớ vật lý, dẫn đến tăng sử dụng CPU và hệ thống thông qua bộ nhớ ảo.

Phân đoạn

Phân trang là phương thức quản lý bộ nhớ phổ biến nhất nhưng vẫn còn các cách khác, tiêu biểu là phân đoạn. Thay vì chia địa chỉ ảo thành những trang kích thước bằng nhau, địa chỉ thật thành những khung trang, địa chỉ ảo được chia thành luận lý, đơn vị độ dài hoặc các đoạn.
Bộ nhớ vật lý không thật sự phân chia hoặc phân vùng. Khi 1 đoạn cần được đưa vào vùng nhớ chính, hệ điều hành sẽ tìm kiếm vùng nhớ trống đủ lớn để lưu thông tin phân đoạn đó. Mỗi phân đoạn có địa chỉ cơ sở, được tạo trong bộ nhớ, giới hạn kích cỡ.
Mỗi chương trình có thể có nhiều phân đoạn, bây giờ được kết hợp thành bảng phân đoạn thay bảng trang. Bảng phân đoạn đơn giản là tập hợp những cặp cơ sở cho mỗi phân đoạn. Bộ nhớ có thể truy xuất và phiên dịch bằng cách cung cấp 1 số vùng nhớ và offset trong phân đoạn. Kiểm tra lỗi được tổ chức để chắc chắn rằng Offset đảm bảo các giá trị ràng buộc. Nếu có, thì giá trị cơ sở cho phân đoạn (được tìm thấy trong bảng phân đoạn) sẽ được điền vào phần bù, nhường cho địa chỉ vật lý thật.

Giống như phân trang, phân đoạn cũng có những vùng nhớ phân mảng. Phân trang tạo ra những vùng nhớ đó vì khung trang có thể khởi tạo 1 tiến trình mà không cần những thuộc tính của khung trang. Phân đoạn lại khác, chứa những phân mảnh ở ngoài. Những phân đoạn được tạo và hủy, những vùng nhớ được giải phóng và chuẩn hóa lại dẫn đến lỗi trong bộ nhớ. Thực tế có rất nhiều vùng nhớ nhỏ nhưng không đủ lớn để lưu các thuộc tính của phân đoạn.

Sự khác biệt giữa phân mảnh trong và ngoài là với phân mảng ngoài, có đủ không gian nhớ để lưu trữ cho tiến trình, nhưng không gian này không liền kề nhau mà là số lượng lớn của nhiều không gian nhỏ, những lỗ hổng không được sử dụng. Với phân mảnh trong, bộ nhớ đơn giản là không tồn tại bởi vì hệ thống đã khởi tạo quá nhiều vùng nhớ cho 1 tiến trình mà nó không cần thiết. Để loại bỏ phân mảnh ngoài, hệ thống sử dụng bộ thu dọn rác. Tiến trình này đơn giản loại bỏ những vùng nhớ chiếm đóng để chúng nhỏ hơn, phân mảnh lại thành lớn hơn và có tác dụng hơn.

Sự kết hợp giữa phân đoạn và phân trang rất tiện ích bởi vì nó cho phép các phân đoạn từ phía người dùng và phân trang từ phía hệ thống.

Tổng quan bộ nhớ ảo

Bộ nhớ bao gồm: bộ đệm, bộ nhớ chính và bộ nhớ ảo trên đĩa cứng. Bộ đệm lưu trữ những thông tin thường xuyên sử dụng của vùng nhớ chính để CPU xử lý. Bộ đệm có thể dùng nhiều cách ánh xạ, theo cơ chế FIFO, LRU(rất tốt cho ứng dụng nhưng khó bổ sung). Một biện pháp thành công khác là dùng bộ nhớ ảo, bộ nhớ ảo cho phép chạy những chương trình mà địa chỉ ảo cần thiết lớn hơn địa chỉ thật. Cho phép nhiều tiến trình chạy cùng 1 lúc. Trong đó TLB được dùng để lưu trữ những cặp địa chỉ ảo/thật được sử dụng. Bộ nhớ ảo chuyển đổi từ địa chỉ ảo sang địa chỉ thật, xử lý những trang lỗi trên đĩa thay vì bộ nhớ chính.
Mối quan hệ giữa bộ nhớ chính và bộ nhớ ảo gần giống với quan hệ giữa bộ nhớ chính và bộ đệm. Thực tế TLB là bộ đệm. Một điều quan trọng để nhận thấy là địa chỉ ảo phải được chuyển dịch sang địa chỉ vật lý trước khi làm bất cứ việc gì và đó là việc mà TLB làm. Mặc dù bộ đệm và phân trang vùng nhớ gần giống nhau nhưng các đối tượng lại khác nhau. Bộ đệm tăng khả năng truy suất bộ nhớ chính trong khi đó bộ nhớ ngoài tăng kích cỡ bộ nhớ chính.

Một ví dụ thực tế về quản lý bộ nhớ

Bởi vì Pentium thể hiện những đặc điểm tiêu biểu của quản lý bộ nhớ hiện đại, chúng ta sẽ trình bày 1 cái nhìn khai quát về cách mà bộ xử lý giải quyết với bộ nhớ, Kiến trúc Pentium cho phép 32 bit địa chỉ ảo và 32 bit địa chỉ vật lý. Nó dùng hoặc 4 KB hoặc 4 MB kích thước trang khi sử dụng phân trang. Phân trang và phân khúc (segmentation) có thể áp dụng trong các kết hợp khác nhau, bao gồm unsegmented, paged memory; segmented, unpaged memory. Pentium có 2 cache L1 và L2, kích cỡ 32 byte. L1 ngay cạnh bộ xử lý, L2 thì giữa bộ xử lý và bộ nhớ. L1 cache thậm chí là 2 cache, Pentium chia L1 cache thành các cache nhỏ hơn được dùng để tổ chức lệnh (I-cache) và 1 cái để tổ chức dữ liệu (D-cache). Cả 2 L1-cache sử dụng bit LRU cho các thoả thuận với khối thay thế. Mỗi L1 cache có 1 TLB(translation look-aside buffer – bộ đệm chuyển đổi – Phương thức tăng tốc độ tra cứu page table bằng cách lưu lại hầu hết giá trị tra cứu trang gần đây trong page table cache): D-cache TLB có 64 mục còn I-cache có 32 mục. Cả 2 TLB đều có 4 cách cài đặt và sử dụng 1 LRU giả tạo thay thế. Cả 2 L1 cache đều sử dụng 2 cách để thiết lập ánh xạ. Để quản lý truy cập tới bộ nhớ, I-cache và L2 cache sử dụng giao thức MESI. Mỗi dòng cache có 2 bit để lưu các trạng thái của MESI: M: modified thay đổi (cache khác với bộ nhớ chính), E: exclusive không chấp nhận(cache không bị thay đổi và giống bộ nhớ), S: shared (line/block có thể chia sẻ với line/block cache khác), I: invalid (line/block không có trong cache).

Tổng kết

Bộ nhớ được sắp xếp theo kiểu phân cấp với bộ nhớ lớn hơn trở nên rẻ hơn, chậm hơn, bộ nhớ nhỏ hơn thì nhanh hơn, đắt hơn. Trong 1 bộ nhớ phân cấp đặc trưng ta có thể thấy 1 cache, bộ nhớ chính, bộ nhớ phụ(thường là ổ đĩa). Điều này giúp các lập trình viên cảm thấy ấn tượng với bộ nhớ lớn và nhanh mà không cần quan tâm thông tin truyền giữa các cấp độ khác nhau của hệ thống này.

Cache hoạt động như 1 bộ nhớ đệm. Để giữ các khối được sử dụng thường xuyên của bộ nhớ chính và ở gần CPU. Một mục tiêu của bộ nhớ phân cấp là giúp cho các bộ xử lý cảm thấy thời gian truy cập hiệu quả gần như thời gian truy cập cache. Mục tiệu này phụ thuộc vào các chương trình đang được thực hiện, kích cỡ và tổ chức của cache và các chính sách thay thế. Bộ xử lý liên quan được tìm thấy trong cache được gọi là cache hit(lượt truy cập), ngược lại cache miss. Trên một miss, dữ liệu bị mất được lấy lại từ bộ nhớ chính và toàn bộ khối có chứa dữ liệu sẽ được tải vào cache.

Tổ chức của cache quyết định phương thức CPU dùng để tìm kiếm cache cho nhiều địa chỉ bộ nhớ khác nhau. Cache được tổ chức theo nhiều cách: ánh xạ trực tiếp, kết hợp hoàn toàn, thiết lập kết hợp. Ánh xạ trực tiếp cache không cần thuật toán thay thế, tuy nhiên kết hợp hoàn toàn và thiết lập kết hợp phải sử dụng FIFO, LRU và các chính sách thay thế khác để quyết định khối nào bị xoá khỏi cache để có chỗ trống cho một khối mới, nếu như cache bị full. LRU cho khả năng hiệu quả cao nhưng khó thực thi.

Một mục tiêu khác của bộ nhớ phân cấp là mở rộng bộ nhớ chính bằng cách sử dụng đĩa cứng, gọi là bộ nhớ ảo. Bộ nhớ ảo cho phép chạy các chương trình trên các bộ nhớ địa chỉ ảo lớn hơn bộ nhớ vật lý. Nó cũng cho phép nhiều quá trình chạy đồng thời. Nhược điểm của bộ nhớ ảo với phân trang(bộ nhớ đệm) bao gồm tiêu tốn nhiều tài nguyên hơn(lưu trữ các bảng page) và truy cập bộ nhớ nhiều hơn(để truy cập đến bảng page). Bộ nhớ ảo cũng gánh thêm chức năng biên dịch để chuyển đổi địa chỉ ảo sang địa chỉ vật lý. Quan hệ giữa bộ nhớ ảo và bộ nhớ chính tương tự như quan hệ giữa bộ nhớ chính và cache. Khái niệm về bộ nhớ cache và TLB thường gây nhầm lẫn. Trong thực tế, TLB là một cache. Điều đó rất quan trọng để nhận ra rằng địa chỉ ảo phải được biên dịch sang địa chỉ vật lý trước khi thực hiện những việc khác, và đó chính là những gì TLB thực hiện. Cho dù cache và paged memory có vẻ giống nhau, nhưng vẫn có sự khác biệt: cache tăng hiệu quả thời gian truy cập tới bộ nhớ chính trong khi đó phân trang lại tăng kích cỡ bộ nhớ chính.

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Chia sẻ dữ liệu giữa 2 máy tính ở nhà – những cách kết nối đơn giản nhất

Chia sẻ dữ liệu giữa 2 máy tính ở nhà – những cách kết nối đơn giản nhất

Có rất nhiều cách để kết nối hai máy tính lại với nhau. Việc này thường được thực hiện khi có nhu cầu truyền dữ liệu giữa hai máy hoặc kết nối để chơi game. Xin giới thiệu hai cách kết nối hai máy tính một cách dễ thực hiện và kinh tế nhất.
Cáp truyền dữ liệu qua cổng song song (Parallel Data Transfer Cable) – Sử dụng một cáp DB25 female với một cáp DB25 female để kết nối hai máy tính thông qua cổng song song (hay cổng máy in). Việc này có thể thực hiện được với các hệ điều hành Windows 95/98/2000, kết nối trực tiếp thông qua cáp (Direct Cable Connection – DCC).

Uploaded with ImageShack.us


Cáp chéo Ethernet (Ethernet Crossover Cable) – Bạn phải có một card mạng ethernet (network interface card – NIC) ở cả hai máy tính trong trường hợp này. Nếu bạn sử dụng ethernet card với jack RJ45 (tương tự như là jack cắm điện thoại nhưng to hơn), bạn chỉ cần một đoạn cáp chéo RJ45 to RJ45 Category 5 (một loại cáp trong kỹ thuật kết nối mạng mà bạn có thể dễ dàng tìm đọc ở các tài liệu).

Uploaded with ImageShack.us


Tuy nhiên, bạn không cần phải có một cáp chéo nếu như bạn kết nối hai máy tính thông qua cổng ethernet hub. Trong trường hợp này bạn chỉ cần 2 đoạn dây cáp có hai đầu theo đúng chuẩn Category 5 để kết nối đến hub.

Uploaded with ImageShack.us


Điều đáng quan tâm ở đây là “phần mềm” để kết nối được hai máy tính, bạn sẽ phải thiết lập các thông số giao thức mạng dạng TCP/IP, NetBUI, hay IPX cho thích hợp với ethernet card của mình (có thể tìm ở trong Start –> Settings –> Control Panel –> Network –> Local area connection). Nếu bạn sử dụng giao thức TCP/IP, bạn sẽ phải cài đặt các địa chỉ IP khác nhau và subnet mask như nhau cho phần TCP/IP properties của mỗi máy tính. Ví dụ : Máy 1 có thể có địa chỉ IP 192.168.0.1 & subnet 255.255.255.0, và máy 2 có thể có địa chỉ IP là 192.168.0.2 & subnet 255.255.255.0. Bạn phải đánh tên Workgroup như nhau trong thanh tab Identification

Cáp USB nối 2 máy tính.
Ngoài ra bạn có thể sử dụng cáp nối trực tiếp USB (USB Direct Link Cable) – Loại cáp này được sử dụng bằng cách cắm trực tiếp vào hai cổng USB của hai máy tính. Cả hai máy tính đều phải chạy hệ điều hành Windows có hỗ trợ USB (Các versions sau cùng của Windows 95 hay Windows 98, và các phiên bản Windows sau này).
Một ví dụ cho cách kết nối này là sử dụng dây nối USB ADP3181 có cung cấp các giải pháp cho việc truyền file, nối mạng trong hộ gia đình, đặc biệt là trong các văn phòng nhỏ. Nó cung cấp một các nhanh chóng và dễ dàng cho việc thông tin host-to-host ở tốc độ kết nối Ethernet™ 10Base-T. Với cách này bạn sẽ không cần một chiếc card mạng nào cả và tốc độ đạt được có thể đến 6 Mbps.
Tuy nhiên khi tính đến giá cả thì nó đắt hơn nhiều hai phương pháp kể trên. Và có lẽ bạn nên thử bằng hai cách trên nếu nhu cầu của bạn chỉ là để “vọc” thử chứ không phải để kinh doanh hay làm việc với yêu cầu cao.

Chúc các bạn thành công!

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Phím tắt vào Bios Asus, Dell, Hp, Sony Vaio, Acer.

Phím tắt vào Bios Asus, Dell, Hp, Sony Vaio, Acer. Các bước vào Bios, chọn Boot hay Recovery đều làm khi các bạn bật máy lên và nhấn luôn nhé, không có tác dụng khi đã vào win.

phim-tat-vao-bios-chon-boot-recovery-asus-acer-dell-lenovo-hp-vaio

[like_to_read]

Trước khi cài lại hay repair windows việc thiết lập boot là rất quan trọng đối với một số loại máy tính không boot ổ đĩa đầu tiên, bạn sẽ cần phải thiết lập lại đôi chút. Những phím tắt vào Bios, chọn Boot Asus, Dell, Hp, Sony Vaio, Acer dưới đây sẽ hỗ trợ bạn.

Chọn boot và vào Bios máy tính Asus 

Chọn boot——-nhấn ESC

Vào Bios——-nhấn F2

Chọn Boot, vào Bios và recovery với máy tính Dell

Vào Bios——-nhấn F2
Chọn boot——-nhấn F12
Recovery———-nhấn F8 rồi chọn Repair your Computer

Vào Bios, chọn Bios và recovery với máy tính HP

Vào Bios ——nhấn F10
Chọn boot – —nhấn F9
Recovery— —nhấn F11

Vào Bios và recovery máy tính SONY VAIO 

Vào Bios ——- nhấn F2
Recovery ——–nhấn F10

SONY VAIO mặc định là boot ổ CD/DVD đầu tiên nên việc chọn boot cũng không cần thiết.

Chọn Boot, vào Bios và recovery với máy tính Lenovo Thinkpad 

Vào Bios——–nhấn F1
Chọn boot——-nhấn F12
Recovery——–nhấn phím xanh ThinkVantage

Chọn Boot, vào Bios với máy tính Acer

Vào Bios——–nhấn F2

Chọn boot——-nhấn F12

Thường thì chức năng menu boot bị ẩn đi phải vào enable mới bấm F12 được

[/like_to_read]

12
Scroll To Top

HELLO USER, JOIN OUR

NEWSLETTER BASEL & CO.

Be the first to learn about our latest trends and get exclusive offers.

We use cookies to improve your experience on our website. By browsing this website, you agree to our use of cookies.