Shopping cart

close
FREE STANDARD SHIPPING ON ALL ORDERS ABOVE £40

Tag Archives: CPU

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Tự thiết lập một máy tính cho riêng mình – Lắp ráp phần cứng

Tự thiết lập một máy tính cho riêng mình – Lắp ráp phần cứng

Hôm nay mình sẽ giới thiệu cho các bạn cách lắp ráp các thiết bị phần cứng lại với nhau.
Lưu ý: Điều này có nghĩa mình sẽ giới thiệu cho các bạn một cách tổng quan, những yếu tố cơ bản…. Mỗi một cấu hình sẽ có những điểm khác nhau chính vì vậy các bạn cần phải đọc kỹ hướng dẫn của dụng của mỗi một thành phần.
Lắp ráp các thành phần
Các công cụ cần thiết: Tua vít, thời gian, sự kiên nhẫn, một số loại băng dính.
Thứ đầu tiên cần phải thực hiện là bắt đầu gỡ bỏ một cách cẩn thận những thành phần mà chúng ta vừa chọn về, đặc biệt là bộ vi xử lý.

Lắp ráp bộ vi xử lý vào bo mạch chủ trước khi đặt bo mạch chủ vào trong case, điều đó sẽ làm cho bạn thao tác dễ dàng hơn và quá trình thao tác cũng nhanh hơn trong trường hợp bạn thực hiện lắp đặt bo mạch chủ trước. Mở các chốt trên socket của bộ vi xử lý…

… cần phải tháo được phần plastic mỏng để bảo vệ các cân cắm. Lưu ý rằng các hướng dẫn sử dụng cho các bộ vi xử lý của Intel có thể không giống và không nên dùng cho AMD.

Sau đó cài đặt một cách cẩn thậm bộ vi xử lý vào, cần phải bảo đảm gióng đúng các chốt giữ. Đóng khóa chốt một cách cẩn thận sau khi cắm xong CPU. Cho đến lúc này bạn vẫn cần phải đợi để gắn quạt cho tới khi bo mạch chủ được đặt an toàn vào đúng vị trí của nó.

Bo mạch chủ thường đi kèm với nó là một mảnh kim loại đậy ở phía sau, đó chính là vị trí các cổng ra vào của bo mạch. Bạn cần phải đặt tấm kim loại này trước khi cho bo mạch chủ vào trong case.

Lưu ý: Trước khi đặt bo mạch chủ, bạn cần phải bảo đảm rằng case của mình có ốc vít để định vị cho bo mạch. Một số case có các lỗ bắt vít và vít đi kèm, tuy nhiên bạn vẫn cần dự phòng thêm. Kiểm tra hướng dẫn sử dụng của bạn.

Lúc này hãy đặt một cách cẩn thận bo mạch chủ đã cắm bộ vi xử lý vào trong case, khớp với các lỗi và các lẫy giữ.

Cần bảo đảm rằng các đầu ra vào của các cổng trên bo mạch chủ đúng với các lỗ trong tấm đục lỗ các cổng… bạn có thể điều chỉnh các phần kim loại của tấm đậy phía sau nếu chúng không thích hợp, vì rất có thể chúng đã bị bẻ cong không đúng khi vận chuyển.

Lúc này dùng tua vít để bắt chặt bo mạch chủ vào case của bạn. Hầu hết các bo mạch chủ đều có đến 9 lỗ bắt vít. Thứ quan trọng nhất lúc này là bạn nên đặt tất cả các ốc vào các lỗ bắt của chúng, không nên vặn một ốc nào đó quá chặt, chỉ cần vặn vừa đủ để bo mạch chủ không bị chuyển rời sai vị trí, sau đó lần lượt vặn chặt dần các ốc gá.

Bước tiếp theo bạn cần phải cắm các đầu cáp … một số bo mạch chủ có cáp nguồn bốn chân cần phải được cắm gần bộ vi xử lý. Bạn nên cắm cáp trước khi lắp quạt cho bộ vi xử lý để dễ thao tác hơn.
Mẹo: Khi lắp ráp các thành phần của máy tính với nhau, bạn nên nghĩ rằng… nếu mình kết nối một cáp hoặc lắp thêm vào một thành phần nào đó thì liệu nó có thể khó khăn cho bạn lắp các thành phần tiếp theo hay không?

Lúc này bạn có thể lắp quạt của bộ vi xử lý vào được rồi, hãy thực hiện một cách cẩn thận, chú ý sao cho khớp với các lỗ và phải bảo đảm rằng hương để có thể cắm được cáp vào nguồn cấp.
Mẹo: Bạn nên sử dụng một ít hợp chất dẫn nhiệt ở phần tiếp giáp giữa CPU và quạt, chất dẫn nhiệt này sẽ làm giảm nhiệt CPU tốt hơn.

Cần phải điều chỉnh bốn ốc chốt để chúng được định vị đúng theo hướng dẫn sử dụng.

Khi quạt đã được lắp đúng vị trí, bạn cần ấn mạnh vào bốn chốt định vị trong một cách chéo nhau. Cho ví dụ, bạn nhấn chốt giữ ở góc trên bên phải trước, sau đó nhấn chốt ở góc dưới bên trái.

Tiếp đến bạn cần kết nối các dây của bo mạch chủ với các dây dẫn đến các nút cấp nguồn và các nút khởi động lại. Cách thức thực hiện và vị trí sẽ khác nhau nếu các bo mạch bản sử dụng khác nhau, chính vì vậy các bạn cần kiểm tra chính xác các vị trí được ghi trong hướng dẫn sử dụng của mỗi một loại bo mạch chủ.

Sau khi cắm xong các dây nối này, bạn cần kết nối tiếp các cáp audio, USB, và các cáp khác với case của bạn, các kết nối nguồn của bo mạch chủ (xem trong hướng dẫn sử dụng)

Lúc này hãy ngắm nghía và trượt ổ đĩa DVD vào đúng vị trí của nó.

Cần phải gióng đúng mặt trước của ổ đĩa DVD sao cho phù hợp trước khi bắt chặt các ốc bên cạnh. Nên nhớ rằng ổ đĩa DVD hoạt động sẽ rất rung nên bạn cần phải bắt thật chặt các ốc giữ hai bên của nó.

Lúc này bạn có thể lắp ổ đĩa cứng vào case. Bạn nên lắp làm so để quạt của case có thể làm mát được ổ cứng. Có thể kết nối cáp SATA trước khi lắp ổ cứng cũng được nhưng cần phải bảo đảm bắt chặt bốn ốc gá hai bên để tránh tiếng ồn trong khi hoạt động.

Cho đến đây, bạn đã lắp đặt gần hết các thành phần chính vào đúng chỗ thích hợp,… tuy nhiên các cáp vẫn còn đang lủng lẳng và rất nguy hiểm. Chính vì vậy các bạn cần phải sử dụng số sợi thít hoặc băng dính để cố định các dây cáp lủng lẳng này.

Vấn đề này tùy thuộc vào sự khéo tay của mỗi bạn nhưng nên làm sao cho các cáp được gọn gàng nhất để tránh các hiện tượng khó thao tác cho các thành phần khác cần phải lắp sau này.

Có thể các bạn cho rằng chúng tôi đã quên không nhắc các bạn cắm RAM, tuy nhiên sự thật không phải vậy. Bạn cần phải lưu ý rằng, đối với một số case, nếu lắp RAM trước bạn sẽ không thể lắp được ổ cứng chính vì vậy chúng ta cần phải chờ đợi để lắp đặt xong ổ đĩa cứng trước đã.
Chuyển sang công đoạn lắp RAM, trước tiên bạn phải tra cứu trong hướng dẫn sử dụng để chỉ ra xem khe bộ nhớ nào cần sử dụng. Tiếp đến, cần phải bảo tháo các lẫy giữ ở hai đầu như thể hiện trong hình bên dưới.

Bạn sẽ thấy được một khía hình chữ V trong bộ nhớ dùng để chỉ thị rằng bạn chỉ có thể cắm theo một hướng nào đó. Định vị khía chữ V và ấn mạnh thanh RAM vào đúng vị trí của khe cắm, cần phải bảo đảm rằng các lẫy giữ hai đầu lọt vào đúng vị trí khuyết để giữ chặt thanh RAM.

Lúc này bạn có thể lắp thêm video card hay bất cứ thành phần phụ nào khác. Tuy nhiên cần phải tháo miếng kim loại ở đúng vị trí bạn định cắm các card bổ sung này.

Danh sách cần kiểm tra trước khi đóng case lại
Trước khi đóng lắp case trở lại, bạn nên kiểm tra thông qua một danh sách sau để bảo đảm chắc chắn mọi thứ. (lưu ý rằng phù thuộc vào cấu hình của bạn mà các hạng mục có thể mở rộng thêm, tuy nhiên điều đó bạn cần phải tham khảo thêm trong hướng dẫn sử dụng).

  1. Bạn đã cắm cáp nguồn vào bo mạch chủ chưa? Thường là một giắc 24 chân và một giắc 4 chân.
  2. Bạn đã lắp quạt cho CPU chưa và đã cắm cáp nguồn cho quạt chưa?
  3. Bạn đã cắm bộ nhớ một cách chắc chắc và an toàn chưa?
  4. Bạn đã cắm các cáp nguồn vào các ổ (ổ đĩa cứng và DVD). Cáp của ổ SATA thì sao?
  5. Bạn có nhớ đã bắt bốn ốc vít bên cạnh của ổ đĩa cứng và ổ đĩa DVD chưa?
  6. Bạn có nhó đã bắt ốc cho bo mạch chủ chưa?
  7. Bạn đã cắm tất cả các dây dẫn từ case vào bo mạch chủ chưa?
  8. Liệu còn có cáp nào vướng vào quạt của bạn không?

Sau khi kiểm tra danh sách trên xong, bạn có thể đóng lắp case trở lại.

Tiếp đến cắm màn hình và bật máy, hy vọng máy của các bạn sẽ làm việc ngay lập tức giống như những gì chúng tôi đã thực hiện.

(Theo Howtogeek)

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Một số lỗi cơ bản mà người dùng máy tính nên biết

Một số lỗi cơ bản mà người dùng máy tính nên biết

Tại sao máy luôn luôn hoạt động ở 100% CPU Usage mà ko giảm đi khi ko dùng chức năng gì?

lỗi cpu 100%

Trả lời: Bệnh này có nhiều nguyên nhân, nhưng thông thường là do 2 file explorer.exe và svchost.exe gây ra. Các bạn bật stast manager lên thì sẽ thấy chúng luôn chiếm 1 lượng lớn CPU Usage.

Nguyên nhân: do xung đột phần mềm, các chương trình audio tồn tại trong máy hay do phần cứng trục trặc và nhất là Klite codec pack

Cách khắc phục: Đầu tiên, phải chú ý tới các bộ phận phần cứng. Lau chùi RAM, Quạt chíp, các cổng cáp, jack cắm,… trét keo cho CPU và cắm lại vào vị trí cũ. Tiếp theo, vào windows, dùng các phần mềm thông thường như Your Unin-staller để gỡ bỏ Flash player. Sau đó tới Klite code pack, các bạn làm theo hướng dẫn:

1, Vào start, chọn All Program > Chọn K-lite codec pack > Chọn Codec Tweak Tool > Chọn All Options rồi chọn Thumbnail settings.

Rồi chọn tiếp.

Sau đó Apply and Close. Restart máy, vào lại windows vào trang chủ Adobe cài lại Flash player.

Tại sao máy chập chờn liên tục, hay bị giật giật nhất là lúc sử dụng ứng dụng nặng. Đôi khi tự động restart (tắt máy) hoặc bật máy load windows thì tự động khởi động lại.

Trả lời: Bệnh này cũng đc nhiều người hỏi thăm trên diễn đàn. Nguyên nhân thì vô kể, khắc phục thì lại hạn chế nên bạn xem cách nào áp dụng đc thì thử nhé!

1, Lỗi windows, cái này là thường hay gặp nhất. Đơn cử như lỗi chương trình Boot, Các file trong windows lủng củng hay hỏng nhiều dẫn đến hoạt động được trong windows thì cũng giật giật, đơ đơ.

Cách giải quyết khá đơn giản là kiếm 1 file ghost tốt hay 1 đĩa windows ổn định đem ra và setups.

2, Lỗi Bad Hdd. Cái này lý giải cho hiện tượng vì sao windows bị lỗi, cài lại windows mà ko khắc phục được. Để biết chính xác thì dùng vài soft đơn giản check Bad HDD để đưa ra kết luận. Khả năng phải thay thế HDD nếu gặp lỗi này là rất cao vì rất khó khắc phục (cũng có thể cắt khoảng dung lượng bị bad ra nhưng nên đem thay cái khác nếu còn BH).

3, Lỏng cáp HDD dẫn đến tính hiệu truyền vào main mất ổn định, Lỏng fan CPU dẫn đến ko tản nhiệt đc cho CPU, cắm RAM lỏng… các lỗi tưởng như vô cùng đơn giản lại có nhiều người dính phải. Cách tốt nhất trước khi xem máy hỏng ở đâu nên xem các phần cứng có đc nguyên vẹn và lắp đúng cách hay ko.

Tại sao bật máy lên mà màn hình vẫn đen xì, ko hiển thị gì cả?

Trả lời: Bệnh này nằm ở phần cứng của các bạn.

1, RAM, trường hợp này là hay bị nhất. Thường thì RAM trong các PC bình thường ko có hệ thống tản nhiệt, lại phải đón nhận nhiệt tỏa ra từ Vga, CPU nên có thể hiểu tuổi thọ của RAM thường khá thấp, khó có thể ngang bằng với CPU hay Vga đc. Ở bệnh này, các bạn hãy tháo thanh RAM  đang sử dụng ra, dùng Gôm, lau sạch chân mạ đồng của RAM rồi cắm lại (cách tốt nhất là cắm sang 1 máy khác) để xem, nếu RAM hoạt động bình thường thì có nghĩa nó vẫn còn ổn hoặc do khe RAM hay bộ phận nào khác trong máy.

2, CPU. Có thể nói Main và CPU là 2 thành phần bền bỉ nhất trong PC. Tuy nhiên khi mà CPU đã đui thì toàn bộ dàn máy coi như vô dụng. Cách duy nhất để test đó là lau chùi rồi cắm sang 1 máy tính khác cùng thông số để kiểm tra.

3, Vga. Nếu có Vga rời thì bạn cũng nên cắm nhờ máy người khác để test. Hoặc tháo nó ra và xem Vga onboard hoạt động máy có chạy lại bt hay ko? Nếu máy bt thì sự cố nằm chính ở Vga của bạn.

4, PSU ko đủ sức mạnh cung cấp cho dàn máy cũng là 1 nguyên nhân. Hoặc là dùng PSU noname, điện áp ko ổn định ; Tuổi thọ của máy cũng sẽ giảm đi đáng kể.

5, Mainboard. Nếu check tất cả các phần trong máy, jack cắm đều ổn định thì Mainboard chính là bộ phận cuối cùng. Cái này ngoài bảo hành ra thì ít người có khả năng đọc – hiểu và sửa chữa các lỗi trên main.

P/s: Ngoài ra các bạn phải xem xét chính xác xem mình có cắm đúng các jack cắm hay chưa? Có nhầm lẫn cũng dẫn đến máy ko thể bật đc đó nhé.

Tại sao trong máy thường xuyên phát ra tiếng kêu rẹt rẹt khi khởi động, 1 lúc thì hết?

Trả lời: Bệnh này đa phần là do khô dầu quạt chip của CPU hay quạt thông gió, chỉ cần tháo lắp quạt, bóc tấm tem trên nóc quạt chip, nhỏ 1 giọt dầu máy or dầu ăn vào là đc. Ngoài ra còn 1 số trường hợp do HDD, PSU nhưng cách khắc phục khá hạn chế hoặc không làm đc.

 Tại sao máy thường rất nóng, đôi lúc lên đến 100*C?

Trả lời: Nguyên nhân khá đơn giản: Do keo tản nhiệt CPU của bạn bị khô hay do fan CPU lắp kênh or ko hoạt động. Bạn kiểm tra và bổ xung lại là ổn.

Tại sao USB cắm vào máy ko nhận? Tại sao cắm USB vào máy chỉ hiện có kết nối mà ko mở đc USB?

Trả lời: Bệnh này kể ra thì cũng có nhiều nguyên nhân từ dễ đến khó. Nhưng ở đây có 1 vài nguyên nhân đơn giản để các bạn khắc phục:

1, Nguyên nhân do jack USB của thiết bị cắm vào bị lung lay, lỏng lẻo do va đập hay gì đó… dẫn đến khi cắm USB vào PC tuy có tiếp xúc tiếp điện vào USB nhưng băng thông của USB đã bị giảm do ko khớp với cổng USB của máy > Máy chỉ phát hiện có thiết bị cắm vào nhưng ko xác định đc đó là gì.

2, Nguyên nhân do lỗi firmware của USB. Cái này các bạn lên trang chủ của hang update firmware vào USB là đc.

3, Đứt dây, cháy chip bên trong USB. Cái này thì ko rõ cách cứu chữa, nhưng mà cứu đc cũng k dùng đc bao lâu, tốt nhất là mua cái mới.

4, USB Hồ Cẩm Đào, dùng 1 thời gian lỗi te tua > Thay thế cái mới.

5, Khi mà cắm USB của m` vào máy khác thì đc mà PC của m` thì ko đc thì phải xem xét tới main và cổng USB trên máy. Có vài khả năng như chưa đấu jack USB với main ở các cổng trên case, cổng USB trên main bị va đập dẫn tới méo mó, mất tín hiệu, đứt mối hàn hay các mạch trên main > Không nhận diện tín hiêu. Cái này thì phải bảo hành rồi

 Cách bảo quản Pin Laptop thế nào?

P/s: Tuy cái này ko phải là bệnh nhưng lại có khá nhiều người hỏi và thắc mắc về cái này nên mình sẽ góp thêm 1 số ý kiến về cách bảo quản pin laptop.

Trả lời: Thông thường, sẽ có nhiều người nói rằng khi cắm Adapter với Laptop thì nên rút pin ra, như thế sẽ tránh được hiện tượng pin mau chai. Nhưng xin thưa rằng cách này là 1 cách hoàn toàn sai lầm. Pin laptop có tác dụng như 1 cục kick điện (UPS), khi dòng điện lưới chập chờn, ko ổn định hay đột ngột bị cắt thì nguồn điện pin sẽ lập tức được sử dụng, bảo vệ cho máy tránh khỏi những trường hợp bất đắc kỳ tử. Các bạn thường hay cho rằng khi cắm pin + cắm adapter thì máy sẽ cùng lúc nhận điện từ nguồn AC, cùng lúc sạc cho pin dẫn đến nóng máy, pin mau chai.

Nhưng yên tâm, hiện giờ đã có nhiều phần mềm quản lý tiến trình sử dụng or sạc pin cho laptop. Như Dell có Dell Quickset,… hay là phần mềm quản lý như Battery Care 1 lời khuyên rằng hãy cắm pin vào máy, đừng quá ham bảo vệ pin để rồi die máy chưa die pin. Nên chỉnh trình quản lý pin ở dạng: Khi cắm AC thì sử dụng nguồn AC, ko sạc pin. Chỉ khi bạn tắt máy thì nguồn điện sẽ sạc cho pin của bạn.

Tại sao thời gian, ngày tháng trong máy sau mỗi lần bật máy đều sai lệch hoặc bị đẩy về năm 2002…2007,2008…?

Trả lời: Thời gian trong máy cũng như thông số trong BIOS được nuôi và chạy ngầm bởi 1 cục pin CMOS rất nhỏ hình tròn. Time sử dụng của loại pin này thường là 1,5-2 năm. Khi cục pin này cạn, ko còn khả năng nuôi BIOS thì tự khắc các thông số trở về thời gian đầu do nhà sản xuất nhập (DF).

Cách khắc phục thì các bạn chi cần mua cục pin CMOS mới và lắp vào thay thế cho cục pin cũ. Giá ~5-10k 1 cục.

Tại sao ODD cắm vào máy nhưng ko nhận? Tại sao ODD ghi đc mà đọc ko được?

Trả lời: Bệnh của ODD (trả lời này áp dụng phần lớn cho ODD S.ATA) cũng là 1 trong những bệnh thường gặp của PC, ODD thường ổn định, nhưng lại hay gặp trục trặc từ năm thứ 2-3 khi sử dụng. >>PC ko nhận ODD:

Nguyên nhân thì có 1 vài trường hợp sau: – Cắm cáp SATA lỏng lẻo, đứt dây bên trong vỏ caosu của dây cáp: Trường hợp cắm lại jack SATA nhưng ko khắc phục đc gì thì ta nên đổi sang 1 dây SATA khác và cắm thật khít vào cổng SATA trên mainboard. – Do cổng jack SATA bị lão hóa, bị biến dạng do các tác nhân vật lý (kể cả mainboard, ODD lẫn dây cáp).

Khắc phục trường hợp này ko dễ, dây cáp SATA thì có thể thay thế, tuy nhiên mainboard thì lại là vấn đề khác, nếu như ko còn cổng S.ATA nào khác để thay thế thì bắt buộc các bạn phải mang đi bảo hành. – Ngoài ra thì còn các trường hợp như ODD die, hỏng mạch trong ODD dù vẫn hiện đèn báo, mainboard hỏng… nhưng lỗi này thuộc về trường hợp khó, nên đem BH, ko nhắc tới ở đây. >>ODD ghi được nhưng ko đọc được: Lỗi này đa phần thuộc về mắt đọc của ODD.

Nếu máy còn BH thì mang đi kiểm tra, còn hết BH thì các bạn có thể nhẹ nhàng tháo lắp ODD để dùng khăn mềm lau chùi cho mắt đọc. Nguyên nhân lắm lúc đơn giản chỉ do bụi bám vào mắt đọc, khiến nó ko hoạt động theo ý muốn.

Tại sao máy đã cắm vga rời rồi mà lại chạy chậm hơn lúc chạy Onboard? Tại sao khi chơi game với Vga rời lại còn khó chịu hơn chơi trên Onboard?

(Chú ý: Phải cài Driver trước khi xem xét mọi vấn đề trên VGA)

Trả lời: Nguyên nhân đa phần nằm ở sự tương thích giữa CPU – Main – Vga. Ngoài ra đó còn nằm ở bản thân chiếc vga đó. Hầu hết, mọi người đều lầm tưởng rằng cứ là Vga rời thì đều vip hơn, ngon hơn vga onboard. Nhưng đừng lầm tưởng! Các dòng Onboard mới, tích hợp trên các dòng Core i SB mới mà Intel cho ra đời đc coi là nỗ lực vượt bậc của Intel trên loại Vga onboard này.

Sức mạnh của nó tuy ko phải là mạnh nhưng cũng đủ sức cạnh tranh với các dòng Vga rời huyền thoại như 9400GT.

Trở lại nguyên nhân tại sao lại có hiện tượng trên, chúng ta hãy xem xét: Các bạn đang dùng Vga gì? Chip CPU gì? và cả PSU gì nữa? >>Khi lắp Vga mới vào máy, ngoài chuyện cài Driver ra, các bạn phải xem PSU của mình có chịu đc sức mạnh của Vga đó hay ko?

Ví dụ như dùng PSU noname, điện áp ko ổn định, đã vậy còn lắp thêm các dòng Vga tiêu tốn điện tới 150W hoặc hơn ở các dòng mới thì việc dùng PSU noname hoàn toàn ko ổn. Nó có thể gây ra hiện tượng co giật của máy hoặc tắc bụp, sụt nguồn, chập cháy hệ thống lúc nào mà ko hay!

Tiếp tới, dùng vga vip như HD6850, GTX460, HD6990… mà lại đi cùng với 1 em CPU lởm khởm Pentium 4, Celeron, thậm chí là Dual Core, C2D, Core i thấp cấp, ko tương xứng với hiệu năng của Vga.

Điều này quả thật làm hệ thống của bạn bất ổn. Khi Vga xử lý quá nhanh, dồn cục tín hiệu về phía con CPU yếu đuối sẽ gây lên hiện trạng nghẽn cổ chai cho toàn hệ thống, làm giảm hiệu năng xử lý.

P/s: Lời khuyên cho anh em. Khi xin tư vấn mua Vga, vui lòng cung cấp toàn bộ thông tin hệ thống, từ Main, CPU tới PSU và số tiền bạn có. Như vậy sẽ thuận tiện hơn cho mọi người tư vấn cho các bạn 1 chiếc Vga phù hợp nhất.

Ngoài ra, cũng cần phải xét tới các vga bạn mua là gì? Như đã nói ở trên, các bạn thường hay xem thường vga onboard mà nhắm tới các dòng vga rời giá rẻ, tầm trung để lấy chữ “rời” và tin tưởng rằng nó sẽ tốt hơn vga onboard các bạn đang dùng.

Nhưng sự thật thì ko phải thế, Vga có phân làm nhiều loại, và khi các bạn mua vga mà ko biết thông số của nó thì sẽ đem lại điều thất vọng khôn lường. Vga có nhiều điều cần chú ý, từ phân cấp Chip GPU, cho tới Badwith, GDDR và dung lượng Vga. Điều này đã đc sắp xếp thứ tự cần xem xét trước khi mua. Các bạn thường nhầm lẫn rằng VRam càng to thì Vga càng khỏe, nhưng thật ra có chiếc Vga dung lượng chỉ 512MB nhưng chất lượng chip Vga tốt thì nó còn khỏe hơn chiếc Vga 3-4GB mà chip cùi.

Đôi khi các bạn mua phải 1 chiếc Vga VRAM to, nhưng Chip GPU thì cùi cộng với cái badwith 64bits thì gần như khó có thể chơi các game hiện tại. Còn xem Videos thì Onboard cũng có thể thực hiện rồi!

P/s: Mua Vga thì nên chú ý: Chip GPU > Badwith (nên lấy loại 128bits++) > GDDR > Điện năng tiêu thụ (Để xem PSU có chịu đc hay ko) > Cuối cùng mới tới VRAM, dung lượng Card.

Tại sao nhà đã có đăng ký sử dụng ADSL, modem đầy đủ mà ko thể vào được Internet?

Trả lời: Mỗi modem mua về đều có quy trình xử lý riêng của nó để định hướng đường mạng cũng như Acc quản lý modem đó trên đường dây chủ của nhà cung cấp mạng (Cái để nhà cung cấp quy định băng thông của gói cước đăng ký).

Nếu như vì 1 lý do bất cẩn nào đó, bạn vô tình restart modem hay thay modem thì việc các bạn cần làm là cài đặt lại cấu hình cho Modem đó để có thể nhận đc đường truyền cho máy tính (Áp dụng cho modem TP-Link do VNPT cung cấp):

Đầu tiên, các bạn vào 1 trình duyệt web nào đó và gõ “192.168.1.1” Enter, bảng kê ID và pass hiện ra, thông thường ở mặc định id và pass sẽ là “admin – admin”, bạn nhập vào và Enter.

Chọn vào Quick Start: Sau đó chọn Run Wizard: Một bảng biểu hiện ra các bạn chọn next: Tiếp tới là bảng Time Zone, cái này tùy chọn, nhưng nên để múi giờ GMT +7 của VN mình, sau đó ấn next:

Tiếp tới, Quick Start – ISP Connection Type, Cái này tùy thuộc vào đường mạng của các bạn mà tùy chọn, nhưng thông thường là ở “PPPoE/PPPoA”, cái này các bạn có thể gọi điện lên tổng đài để rõ hơn về đường mạng m` sử dụng để chọn cho chính xác, của mình là PPPoE/PPPoA:

Tiếp tới là setups cho PPPoE/PPPoA: Mục Id và pass, các bạn có thể lấy hợp đồng của mình ra và nhìn Username và pass, nhà cung cấp mạng khi làm hợp đồng sẽ cung cấp cho bạn cái này.

VPI và VCI, 2 mục này các bạn phải gọi điện hỏi tổng đài để rõ địa phương mình sử dụng là bao nhiêu để điền vào cho chính xác. Mục cuối để nguyên:

Cuối cùng là Save lại setups của các bạn, có thể trong lúc cài đặt các modem khác nhau sẽ ra các bảng biểu khác nhau nên đừng áp đặt bài này của mình mà làm giống y hệt nhé!

Tốt nhất nên gọi nhân viên tổng đài xuống làm việc giúp các bạn sẽ chính xác hơn nhiều. Ấn Next để kết thúc cài đặt, Back để quay lại sửa đổi và Exit để thoát:

Tại sao máy cứ ở chỗ màn hình đen mới khởi động (load phần cứng) mà ko thể nào vào windows?

Trả lời: Bệnh này xác định nguyên nhân thì 99% ko phải do phần mềm, 1% thì chưa biết có ai tìm ra chưa? Các bạn có thể nhìn vào màn hình đen đó để xác định xem thành phần nào đã đc load rồi và thành phần nào chưa loading đc để xác định xem bộ phận nào trong máy khiến cho nó ko hoạt động.

Như các bạn đã thấy trong tấm hình: Main Asus load xong, CPU C2Q Q6600 đã nhận, RAM 4GB Dual Chanel, Keyboard, mouse, hub… qua Usb cũng nhận ok. >>Vậy, còn HDD (Hard disk driver) và ODD (ổ CD/DVD) đâu?

Ta chưa thấy nó load đc? À, lỗi có thể là đây rồi! Các bạn hãy kiểm tra xem ODD hay HDD của mình có còn ổn định hay ko? Cách tốt nhất là tháo ổ ODD ra và chạy duy nhất với HDD.

Nếu HDD ko chạy thì… coi như ta đã tìm ra vấn đề hoặc với ODD cũng tương tự. Tuy nhiên, các bạn cũng chớ nên lạm dụng cách này. Vì, có thể thấy Main ko nhận, CPU không nhận hay RAM ko load đc thì tất nhiên PC cũng ko khởi động được. Thường nó áp dụng cho HDD và ODD thôi nhé. Lắm lúc set jump ổ IDE nhầm cũng khiến máy ko load đc.

Nguồn sưu tầm.

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

10 cách làm mát máy tính trong những ngày hè

10 cách làm mát máy tính trong những ngày hè

tannhietlaptop

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển hiện nay,việc sử dụng máy tính là rất quan trọng. Mọi người có thể làm bất cứ điều gì với nó có thể học tập, giải trí, làm việc…, tuy nhiện máy tính cũng giống như con người, nó không thể chịu được nhiệt độ cao. Khi đó, các linh kiện sẽ nhanh chóng hỏng hóc và không thể vận hành một cách bình thường.

Làm mát máy tính

Cách làm mát máy tính trong những ngày nóng bức

Khi nhiệt độ ngoài trời xấp xỉ 4oC, bạn cần áp dụng một số phương pháp “làm mát” cho chiếc máy tính của mình nếu không nó sẽ tự nhiên lâm bệnh.

Máy tính là một khối bao gồm nhiều thiết bị thành phần như CPU, card đồ họa, main…, và chúng sẽ phát ra rất nhiều nhiệt khi vận hành. Vì vậy máy tính được thiết kế sử dụng nhiều quạt làm mát và các giải pháp khắc phục hơi nóng. Nếu chiếc máy tính của bạn có mức tản nhiệt không đủ thì nhiệt độ hệ thống sẽ cao lên, đe dọa trực tiếp tới tuổi thọ cũng như khả năng làm việc của máy tính. Chính vì thế, làm mát PC luôn được coi là ưu tiên hàng đầu đối với người dùng máy tính. Dưới đây là một số cách làm mát đơn giản cho máy tính mà bạn có thể áp dụng trong những ngày hè nóng nực này.

1. Khơi thông dòng không khí

PC sẽ “thở” dễ hơn nếu bạn dọn sạch các vật cản dòng nhiệt tỏa ra. Bạn hãy chắc rằng bên cạnh và nhất là đằng sau thùng máy (case) PC không có vật chắn nào. Case máy tính nên đặt cách vật chắn xung quanh ít nhất từ 2-3-inch . Nếu chiếc máy tính của bạn đặt dưới gầm bàn thì hãy chắc rằng bạn không để nhiều đồ xung quanh bởi dòng không khí đối lưu sẽ trở nên nóng hơn nếu không thoát ra ngoài được.

2. Không nên mở thùng case

mở vở máy tính

Các bạn không nên mở vở máy tính

Đa số người dùng máy tính thường có suy nghĩ rằng mở thùng PC sẽ giúp tản nhiệt tốt hơn, nhất là trong những ngày nóng nực, nhưng các chuyên gia khuyên rằng bạn không nên làm điều này. Tại sao? Tuy mở thùng case giúp không khí tản ra nhanh hơn nhưng kèm theo đó là rất nhiều bụi và các vật thể nhỏ bay vào, khiến cho quạt làm mát bị kẹt, và theo thời gian chúng sẽ vận hành kém hơn, khiến cho hiệu quả tản nhiệt thấp hơn. Đó là chưa nói tới việc những linh kiện đắt tiền của máy tính cũng rất dị ứng với bụi. Quả thực cách làm này tỏ ra lợi bất cập hại, có thể thời gian đầu bạn sẽ được hưởng lợi nhưng sau đó sẽ hứng chịu nhiều hậu quả nặng nề hơn.

3. Làm sạch máy tính

Như đã nói ở phần trên, theo thời gian, chiếc quạt làm mát chính của PC sẽ chạy chậm lại, mà nguyên nhân chủ yếu là do bụi bẩn. Một trong những cách làm mát PC hiệu quả nhất là làm sạch những chiếc quạt bên trong, bao gồm quạt chip, quạt nguồn và những quạt tản nhiệt phụ khác. Bạn chỉ cần tắt máy tính, mở thùng case, rồi sử dụng dụng cụ nén khí để làm sạch các quạt tản nhiệt. Nếu chiếc PC của bạn quá bẩn, có thể sẽ phải tháo rời của bộ phận để “tổng vệ sinh”.

vệ sinh sạch máy tính

Nên vệ sinh sạch máy tính

4. Thay đổi vị trí đặt PC

Nếu vị trí đặt PC hiện tại quá nóng hoặc quá bụi thì có thể bạn sẽ phải tính tới việc di chuyển PC sang vị trí tốt hơn. Tuy nhiên, trong lúc di chuyển bạn nên cẩn thận với các thiết bị của máy tính. Việc tháo lắp cần nhẹ nhàng tránh hư hại không đánh có, nhất là phải cẩn trọng với những thành phần nhạy cảm như ổ cứng, bo mạch, CPU…

 

5. Lắp thêm quạt làm mát cho case

Quạt làm mát cho case thường là những chiếc quạt nhỏ được lắp đằng trước hoặc đằng sau vỏ máy, hoặc bên trong thùng máy. Những chiếc quạt này sẽ giúp tản nhiệt tốt hơn. Bạn nên sử dụng 2 chiếc quạt làm mát cho case, một chiếc dùng để làm mát PC, chiếc còn lại để thổi hơi nóng ra khỏi PC. Việc lắp đặt những chiếc quạt này cũng rất đơn giản, nên bạn sẽ không cần phải lo ngại gì.

6. Không ép xung

Ép xung sẽ giúp cho máy tính của bạn chạy nhanh hơn nhưng theo đó lượng nhiệt tỏa ra cũng lớn hơn. Nếu phần cứng máy tính cho phép bạn ép xung trong khi bạn chưa có các giải pháp làm mát tương ứng thì lời khuyên cho là bạn không nên sử dụng lựa chọn này. Bạn nên sử dụng cấu hình phần cứng mặc định của nhà sản xuất để tránh những nguy cơ đáng tiếc.

7. Thay bộ nguồn

Bộ nguồn thường được trang bị quạt làm mát lớn hơn, và lượng nhiệt thổi ra cũng nhiều hơn. Nếu bạn không sử dụng quạt cho case thì quạt nguồn sẽ là bộ phận làm mát duy nhất cho chiếc máy tính của mình, và điều này cũng tạo ra những nguy cơ nhất định. Nếu chiếc quạt làm làm việc kém, hoặc trục trặc, thì hơi nóng trong máy tính tỏa ra ra rất nhanh. Thật không may là bạn không thể thay thế chiếc quạt này nếu nó bị trục trặc mà phải thay cả bộ nguồn.

8. Thêm quạt phụ

Nhưng đã nói, quạt tản nhiệt trong máy tính không chỉ là quạt nguồn, quạt CPU, quạt case, mà còn nhiều bộ phận khác như ổ cứng, card đồ họa, bộ nhớ RAM… cũng có thể sử dụng quạt tản nhiệt gắn kèm. Nói cách khác, nếu bạn cảm thấy ổ cứng hay RAM của mình quá nóng thì có thể sử dụng giải pháp tản nhiệt riêng cho chúng. Còn nếu card đồ họa quá nóng khi chơi game thì bạn có thể nâng cấp quạt làm mát lên kích cỡ lớn hơn.

9. Làm mát bằng chất lỏng

Đây là giải pháp khá tốn kém nhưng việc lắp đặt lại khá đơn giản. Thường thì cách làm mát này hay được sử dụng cho những hệ thống máy chơi game tỏa nhiệt cao, hoặc những hệ thống ép xung cấp độ cao. Làm mát bằng chất lỏng giúp cho máy tính mát hơn rất nhiều, và đây vẫn được xem là giải pháp tản nhiệt hiệu quả nhất hiện nay.

10. Nâng cấp quạt chip

Chip máy tính (hay còn gọi là CPU) là thành phần quan trọng và đắt tiền nhất của chiếc máy tính. Khả năng chip bị nóng quá mức là hoàn toàn có thể xảy ra nếu bạn không chú ý tới nó. Thường thì quạt làm mát cho chip là thiết bị đồng bộ, nhưng theo thời gian chúng sẽ vận hành kém đi. Theo kinh nghiệm, bạn nên trang bị cho mình quạt CPU có công suất lớn hơn, và chắc chắn đó sẽ là khoản đầu tư đúng đắn.

Hiện nay hoangdiep.net đang thiết kế và có sản phẩm tản nhiệt rất tốt cho laptop của bạn, bạn nào có nhu cầu về tản nhiệt vui long liên hệ với Ad nhé

https://www.facebook.com/hoangdiep.net

hình ảnh :

tannhietlaptop

chạy 24/24h, chạy nguồn điện AC 220 riêng. điện áp ra từ 12v- 24 v. theo tốc độ quạt.

Ggiảm nhiệt độ máy đi tối thiểu 25% nhiệt độ tối đa 60% nhiệt độ

Ad đã test trên laptop Acer bị hỏng quạt tản nhiệt trên máy. trước khi dùng bộ này thì dùng đc ~ 30p thì sập nguồn. sau khi dùng thì chạy ok cả ngày !! @@

 Chúc các bạn thành công để tăng tốc mày tính trong những ngày he…. (^.^)

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Sửa Lỗi CPU Tăng Cao Trong Windows

Sửa Lỗi CPU Tăng Cao Trong Windows

 Lỗi CPU Tăng Cao Trong Windows Việc này xem ra đã làm cho khá nhìu người nhức đầu…Nó làm cho các,cpu nhảy lên cả 100% làm ứng dụng chúng ta chạy chậm trạp và dẫn đến treo máy…bạn hãy tưởng tượng nếu như bạn đang cần làm việc gấp,mà thỉnh thoảng máy nó cứ giật..rồi lại giật rồi lại giật tiếp..Khiến cho bạn muốn đập bỏ cái máy tính và mua cái mới..☺ =))

 

Vậy Hãy Tìm Hiểu Những Cách Sau để Giải Quyết Việc CPU Tăng Cao trong Windows nhé :

  • WmiPrvSE.exe

Wmiprvse.Exe có tên đầy đủ của Windows Management Instrumentation, là một phần của Windows và nó hỗ trợ các tổ chức trong việc giám sát và xử lý sự cố một số lượng lớn của các hệ thống trên mạng.nó không phải là không có ích nhưngđôi khi nó lại không hoạt động đúng cách.Vậy chúng ta hãy tắt bỏ ứng dụng này đi xem nhé.

Bạn có thể biết đây là vấn đề của bạn bằng cách mở Task Manager và tìm kiếm các quá trình Wmiprvse.Exe. Nếu sử dụng CPU của nó là cao hơn so với một vài phần trăm, và bạn không chạy bất kỳ chương trình mà có thể ảnh hưởng đến nó, nó không hoạt động đúng.

Microsoft đã cung cấp cho hầu hết người dùng cách giải quyết bằng cách các bạn truy cập vào Services và tìm đến Windows Management Instrumentation Kích chuột phải vào nó rồi chọn Properties và chuyển sang Disable để hủy bỏ dịch vụ này

  • Too Many Background Processes

Too Many Background Processes là một chương trình đang chạy trên máy tính của bạn , ngay cả khi nó không được mở trong một cửa sổ .Một máy tính bình thường thì có rất nhiều tiến trình chạy nền cùng một lúc.Ví dụ trong quá trình cài đặt phần mềm thì số lượng chạy ngầm lại càng cao..Việc này sẽ khiến cho CPU luôn phải xử lý các ứng dụng này mặc dùng các bạn không chạy nó..

Bạn có thể hạn chế việc này bằng cách truy cập vào Msconfig..rồi tìm đến Startup và tắt đi những ứng dụng khởi động cùng máy không mong muốn đi..Việc này sẽ giúp máy bạn khởi động nhanh hơn và giải phóng CPU không phải làm việc với ứng dụng chạy ngầm đó.

  • Phần Mềm Diệt Virus và Virus

Phần mềm diệt virus cũng có thể ảnh hưởng tới CPU của bạn khi nó quét virus sẽ chiếm dụng 1 lượng tài nguyên CPU đáng kể để đẩy cao công việc..nhưng việc này có lẽ sẽ không ảnh hưởng tới những máy tính cao cấp.

Ở Một mặt khác là Việc dính Virus là điều đầu tiên người sử dụng máy tính nghĩ đến nó là nguồn gốc dễ xảy ra nhất khi CPU tăng cao.Một hệ thống đó là bị nhiễm có thể chạy các quá trình trong nền, hoặc có thể cố gắng để lây lan bằng cách gửi phần mềm độc hại cho người khác qua email của bạn, mạng của bạn, hoặc các nguồn khác . Tất cả điều này đòi hỏi sức mạnh xử lý , có thể dịch cho hiệu suất kém.
Một khi bạn đã tìm thấy được vấn đề, bạn có thể loại bỏ nó với các ứng dụng chống vi rút bạn sử dụng để quét Virus đi..

Việc CPU tăng cao khiến cho m.n rất bực mình..ở trên là một số cách mà mình biết.hy vọng sẽ giúp ích được 1 số bạn,.Nếu như bạn nào biết thêm thì hãy cùng nhau đóng góp ý kiến ở dưới nhé..☺..

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Kiến thức về máy vi tính căn bản phần 2

Kiến thức về máy vi tính căn bản phần 2

Kiến thức về máy vi tính căn bản phần 2

Hi ! Trong phần 1  về kiến thức về máy vi tính căn bản 1!  mình đã chia sẻ cho các bạn về  sự ra đời của máy vi tính như thế nào . Kiến thức thì nó bao la lắm  mình thi chỉ chia sẻ một it thôi hi vọng các bạn có thể hiều sơ sơ hoăc đâu đó có ai hỏi thì còn trả lời được nhé !Nay mình chia sẻ về kiến thức máy vi tính căn bản phần 2 . Phần này mình xin nói về các thiết bị bên trong  hệ thống máy vi tính cá nhân

Các thành phần bên trong máy vi tính :

Máy vi tính là một hệ thống gồm nhiều thiết bị được liên kết với nhau thông qua một bo mạch chủ ( main board ) , sự liên kết này được điều khiển bởi CPU và hệ thống phần mềm hướng dẫn ( hệ điều hành ) , mỗi thiết bị trong hệ thống có một chức năng riêng biệt trong đó có ba thiết bị quan trọng  đơn giản dễ hiểu nhất mà chúng ta lưu ý là  CPU( bộ vi xử lý ), Mainboard và bộ nhớ RAM( bộ nhớ ) . Ở đây mình xin phép không đi sâu vào chuyên ngành phần cứng  mình chỉ tìm hiểu thế thôi  .

cau tao may vi tinh

 

Nhiệm vụ các thành phần bên trong máy vi tính :

 Main Board  :Bo mạch chủ  đóng vai trò liên kết  tất cả  các thành phần trong  hệ thống của máy vi tính lại với nhau  tạo thành 1 khối đồng bộ  thống nhất với nhau. Một máy vi tính thông thường  được tạo  nên từ bộ vi  xử lý ( CPU) , bộ nhớ ( RAM) vá các thiết bị  cơ bản  khác thường  nằm trên bo mạch chủ . Các thành phần khác nhau chúng có  tốc độ làm việc  và cách thức hoạt động  khác nhau  nhưng được giao tiếp với nhau  nhờ hệ thông chipset trên  main board  điều khiển

Chức năng main board :Gắn kết  các thành phần  trên một máy vi tính  lại với nhau , các thành phần giao tiếp với nhau nhờ hệ thống chipset trên main board Quàn lý  nguồn  cấp  cho các thành phần  trên main boardĐồng bộ sự hoạt động của toàn hệ thống trên 1 bo mạch chủ

may vi tinh

 

 CenTral Processing Unit ( CPU ) :Bộ vi  xử lý  là một thành phần quan trong nhất  của máy vi tính , CPU  giúp thưc hiện các lệnh  của chương trình  khi các ứng dụng , chương trình được chạy , việc xử lý các chương trình nhanh hay chậm thì phụ thuộc vào  CPU  và nó có giá tri cao nhất trong bộ máy tính . CPU  có nhiều  kiểu dáng khác nhau  , hình thức đơn giản nhất là  1 con chip  với bài chục  chân , phức tạp hơn  CPU  được ráp  sẵn trong bộ mạch  với hàng  trăm  con chíp khác nhau .Bộ xử  lý  trung tâm bao gồm  khối điều  khiển  và khối  tính toán

cac thanh phan trong may tinh

 

 

Radom  Access   Memory  ( RAM)  : bộ nhớ truy  xuất ngẫu nhiên  , là một bộ nhớ tạm thời  lưu các chương trình  phục vụ  trực tiếp  cho CPU xử lý , toàn bộ các  chương trình  khi  xử lý điều nạp vào  RAM . Dung lượng  và tốc độ  truy cập RAM  sẻ làm ảnh hưởng  trực tiếp  đến tốc độ  chung của máy vi tính

cac thanh phan trong may vi tinh

 Ngoài 3 thành phần chính mainboard , CPU , và Ram ,  chúng ta có thêm nhưng thành phần sau  đề thành 1 máy vi tính:

– Case và bộ nguồn

– ổ đĩa  cứng HDD và ổ đĩa thể rắn SSD

– ổ đĩa ghi, đọc CD  ( CD ROM)

– Thiết bị ngoại vi : keyboard  , mouse

– Card Video (VGA)

–  Monitor

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Ép xung CPU là gì?

Ép xung CPU là gì?

Ép xung (overclock) được hiểu một cách đơn giản là một hình thức can thiệp vào hệ thống phần cứng máy tính – thường là CPU – để cải thiện hiệu suất, làm việc tốt hơn, nhanh hơn.

Tuy nhiên, có nên hay không thực hiện ép xung và liệu có những nguy cơ nào có thể xảy ra với phần cứng máy tính khi ép xung quá mức? Mỗi bộ VXL được thiết lập để chạy ở một tốc độ duy nhất. Nhưng tốc độ đó cũng chỉ là ước tính và thường có thể nâng lên một chút mà không gây ra vấn đề gì.

Ngoài CPU, chúng ta cũng có thể ép xung các thành phần khác, chẳng hạn như bộ nhớ RAM hoặc bộ VXLđồ họa (GPU). Nhưng thuật ngữ này chủ yếu được áp dụng cho các bộ VXL trung tâm (CPU).

Vậy thì tại sao chúng ta nên ép xung bộ VXL? Câu trả lời rất rõ ràng, đó là sẽ giúp tăng tốc độ máy tính, nói nôm na là chúng ta sẽ có một chiếc máy tính mạnh hơn để phục vụ công việc, mà không cần phải mất tiền để mua một cái máy mới.

Nhưng ngược lại, cũng có một số lí do chính đáng để không nên thực hiện ép xung. Thứ nhất, nó có thể làm hỏng phần cứng máy tính, mặc dù nâng tốc độ CPU lên một hoặc hai bậc thì vẫn an toàn.

Một khi đã ép xung thì tất nhiên chúng ta sẽ phải tính ngay đến giải pháp tản nhiệt, bạn cần phải đảm bảo máy tính vẫn mát mẻ thông thoáng trước và sau khi ép xung. Bạn có thể thay quạt tản nhiệt mới nếu chỉ ép ở mức độ thấp, hoặc thậm chí sử dụng tản nhiệt chất lỏng nếu ép ở mức độ cao. Lưu ý rằng, chúng ta không nên ép xung cho máy tính xách tay, bởi khả năng tản nhiệt kém hơn so với máy tính để bàn và bạn cũng không thể lắp thêm các bộ tản nhiệt như nitơ lỏng để đảm bảo làm mát CPU.

Mặt khác, ngay cả khi ép xung không gây bất kì tác hại nào thì việc này vẫn có thể làm mất hiệu lực bảo hành chiếc máy tính của bạn. Vì vậy, nếu bạn muốn ép xung một chiếc máy tính mới thì nên liên hệ với nhà sản xuất để đảm bảo quyền bảo hành.

Và điều cuối cùng, ép xung có thể không cải thiện được nhiều hiệu suất tổng thể. Bộ VXL chỉ là một trong một số các thành phần gây tác dụng hiệu suất tổng thể của máy, mà còn có ổ đĩa cứng, RAM, và card đồ họa. Vì vậy, bên cạnh việc ép xung, bạn cũng có thể nâng cấp các bộ phận khác để đạt được hiệu suất mong muốn.

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Hướng dẫn sử dụng keo tản nhiệt đúng cách

Hướng dẫn sử dụng keo tản nhiệt đúng cách

Bạn đã sử dụng keo tản nhiệt đúng cách?

Keo tản nhiệt là thứ không thể thiếu trong các bộ tản nhiệt ngày nay, bởi nó có khả năng lấp đi phần không khí dẫn nhiệt kém nằm giữa 2 bề mặt. Nhưng liệu các bạn đã biết cách bôi keo thế nào cho đúng?

Bạn đã bao giờ thắc mắc tại sao trước khi đặt quạt tản nhiệt lên CPU ta lại phải tra một lớp keo màu trắng trước chứ không được đặt trực tiếp? Hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vấn đề này qua bài viết dưới đây.

Tại sao lại cần keo dẫn nhiệt?

Về lý thuyết nếu như bề mặt của CPU và của phiến tản nhiệt hoàn toàn nhẵn thì khi tiếp xúc với nhau toàn bộ nhiệt từ CPU sẽ được truyền hết sang phiến tản nhiệt. Tuy nhiên trên thực tế không thể sản xuất ra các linh kiện lý tưởng như vậy, giữa 2 bề mặt tiếp xúc với nhau sẽ luôn tồn tại 1 khe hở. Bạn có thể hình dung ra khe hở này qua hình minh họa dưới đây.

Phần trắng thể hiện vùng không khí tồn tại giữa 2 bề mặt tiếp xúc, và không khí thì dẫn nhiệt rất kém. Vì vậy mà keo dẫn nhiệt ra đời để lấp đầy chỗ trống đó và làm công việc dẫn nhiệt từ các loại chip sang bộ tản nhiệt. Keo dẫn nhiệt tuy không thể bằng được kim loại nhưng ít nhất nó cũng tốt hơn khoảng 100 lần không khí.

Lựa chọn keo dẫn nhiệt

Hầu hết các loại keo tản nhiệt thường có màu trắng, tuy nhiên thành phần bên trong của chúng có thể khác nhau dẫn đến hiệu quả dẫn nhiệt cũng khác nhau. Có 3 loại chính đó là keo tản nhiệt có chứa thành phần kim loại, sứ và silicon.

Keo chứa kim loại: ai cũng biết rằng kim loại dẫn nhiệt tốt nhất trong các loại vật chất nên hiệu quả của loại keo này là không phải bàn cãi. Tuy nhiên kim loại ngoài dẫn nhiệt ra còn dẫn cả điện nên nếu để keo dây vào phần mạch có thể gây chập rất nguy hiểm cho linh kiện.

Keo có chứa gốm: hiệu quả kém một chút so với keo kim loại, bù lại loại keo này có ưu điểm là không dẫn điện nên rất an toàn.

Keo chứa sillicon: loại keo thường được bán kèm cùng với tản nhiệt mặc định của CPU và trong các bộ tản nhiệt chất lượng thấp. Hiệu quả của loại keo này kém hơn nhiều so với 2 loại trên.

Để có hiệu quả giải nhiệt tốt nhất cho CPU hoặc GPU bạn nên chọn loại keo có thành phần gốm, hiệu quả chỉ kém hơn loại keo kim loại từ 1 đến 3 độ C mà lại rất an toàn tránh được nguy cơ chập cháy linh kiện. Hãy mua sản phẩm từ các hãng sản xuất tản nhiệt nổi tiếng như Arctic Cooling, Arctic Silver để có chất lượng tốt nhất.

Quy trình bôi keo tản nhiệt

Làm sạch bề mặt tiếp xúc

Đây là một bước quan trọng trước khi gắn tản nhiệt mới lên CPU hoặc GPU mà rất nhiều người quên hoặc bỏ qua. Lớp keo cũ sau một thời gian sử dụng sẽ bị khô và tạo thành các mảng bám trên bề mặt chip. Nếu tiếp tục tra keo mới lên thì diện tích tiếp xúc của keo với tản nhiệt sẽ giảm đi (do bề mặt không bằng phẳng của lớp keo) và dẫn tới việc tản nhiệt kém hiệu quả.

Để thực hiện việc làm sạch bề mặt chip bạn cần sử dụng một tấm vải mềm hoặc một vài cây tăm bông cùng với dung dịch tẩy rửa như cồn hoặc axeton. Chú ý không sử dụng các loại chất tẩy rửa có chứa dầu vì lớp dầu trên bề mặt chip sẽ cản trở việc dẫn nhiệt ra ngoài.

Sau khi chuẩn bị các dụng cụ cần thiết, bạn hãy tiến hành làm sạch bằng cách nhúng vải hoặc tăm bông vào dung dịch sau đó nhẹ nhàng lau sạch lớp keo trên bề mặt chip. Bạn cũng chú ý không để ngón tay chạm lên bề mặt chip vì trên các đầu ngón tay cũng có dầu.

Tương tự như bề mặt chip, phần đáy tiếp xúc của các phiến tản nhiệt cũng cần được làm sạch. Nếu keo cũ còn sót lại nhiều bạn phải lau nhiều lần cho tới khi bề mặt tiếp xúc của tản nhiệt sáng bóng trở lại.

Bôi keo mới

Công đoạn này đơn giản nhưng đòi hỏi bạn khi thực hiện phải cẩn thận và tỉ mỉ. Cái mà chúng ta cần là tạo một lớp keo tản nhiệt mỏng và đều trên bề mặt chip chứ không phải cứ thật nhiều keo là tốt. Đầu tiên hãy nhỏ 1 giọt keo vào chính giữa bề mặt chip.

Sau đó dùng một tấm bìa hoặc nhựa mỏng (như các loại thẻ game, card visit, ..) dàn đều keo ra 4 phía của chip. Tuyệt đối không sử dụng các vật kim loại vì có thể làm xước bể mặt tiếp xúc.

Có một cách khác để thực hiện việc này đó là đặt tản nhiệt luôn lên chip sau khi nhỏ keo, trọng lượng của phiến tản nhiệt sẽ giúp cho keo được dàn đều về mọi phía. Tuy nhiên nếu lượng keo quá ít thì bề mặt chip sẽ không được che phủ kín và ngược lại nếu quá nhiều sẽ tràn ra ngoài và dù có thừa hay thiếu keo thì bạn vẫn phải làm lại từ đầu nên tốt nhất bạn hãy làm theo cách đầu tiên để đỡ mất công.

Việc còn lại sau khi đã tra keo xong là đặt tản nhiệt vào vị trí. Hãy cố gắng đặt thật chính xác sau đó khóa tản nhiệt lại luôn, tránh nâng lên hạ xuống nhiều lần sẽ làm biến dạng lớp keo và giảm hiệu quả tản nhiệt.

Read More
Thủ Thuật Kinh Nghiệm

Các kiểu bộ nhớ

Các kiểu bộ nhớ

nguồn  ;Wikipedia

Mục lục

  • 1 Các kiểu bộ nhớ
  • 2 Phân cấp bộ nhớ
  • 3 Bộ nhớ đệm nhanh
    • 3.1 Ánh xạ bộ nhớ đệm nhanh
    • 3.2 Chính sách thay thế
    • 3.3 Thời gian truy cập hiệu quả
    • 3.4 Khi nào bộ đệm bị hỏng
    • 3.5 Chính sách ghi bộ đệm
  • 4 Bộ nhớ ảo
    • 4.1 Phân Trang
    • 4.2 Thời gian truy xuất phân trang
    • 4.3 Kết hợp bộ đệm, tìm kiếm bộ đệm, phân trang
    • 4.4 Thuận lợi, khó khăn của phân trang, bộ nhớ ảo
    • 4.5 Phân đoạn
    • 4.6 Tổng quan bộ nhớ ảo
  • 5 Một ví dụ thực tế về quản lý bộ nhớ
  • 6 Tổng kết
  • 7 Tham khảo

Mô hình Von Neumman

Hầu hết máy tính được xây dựng sử dụng mô hình Von Neumann, với trung tâm là bộ nhớ. Chương trình thực thi quá trình được lưu trong bộ nhớ. Chúng ta biết bộ nhớ là cấu trúc logic như 1 dãy các điểm, với địa chỉ từ 0 đến tối đa kích thước bộ nhớ mà vi xử lý có thể đánh địa chỉ. Trong phần này chúng ta sẽ xem xét các loại bộ nhớ khác nhau và cách mà mỗi cái là một phần của hệ thống phân cấp bộ nhớ. Sau đó chúng ta sẽ xem xét một bộ nhớ đệm nhanh (1 bộ nhớ đặc biệt tốc độ cao) và phương thức tận dụng bộ nhớ tối đa của các bộ nhớ ảo thực thi thông qua phân trang.

Các kiểu bộ nhớ

Tại sao lại có nhiều loại bộ nhớ khác nhau như vậy? Đó là bởi vì công nghệ liên tục phát triển để cố gắng bắt kịp với các cải tiến trong thiết kế CPU – tốc độ của bộ nhớ phải theo kịp CPU hoặc bộ nhớ trở thành nút cổ chai. Trong những năm gần đây, chúng ta đã nhìn thấy rất nhiều cải tiến trong CPU. Như vậy bộ nhớ cũng phải phát triển để theo kịp được tốc độ của CPU, trong đó bộ nhớ chính là bộ nhớ chậm nhất. Nhưng việc cải tiến bộ nhớ chính để theo kịp với CPU không phải là vấn đề thực sự quan trọng bởi vì lợi ích của bộ nhớ đệm nhanh (cache memory) và phân cấp bộ nhớ (THE MEMORY HIERARCHY). Bộ nhớ đệm nhanh là một loại bộ nhớ nhỏ, tốc độ cao (đồng nghĩa với chi phí cao). Đó là loại bộ nhớ được sử dụng thường xuyên để truy cập dữ liệu. Việc bổ sung chi phí bằng cách sử dụng các công nghệ tiên tiến, nhanh chóng cho bộ nhớ không phải lúc nào cũng hợp lý bởi vì bộ nhớ chậm hơn có thể thường xuyên ẩn bởi hệ thống bộ nhớ đệm nhanh hiệu suất cao. Tuy nhiên, trước khi chúng ta thảo luận về bộ nhớ đệm nhanh, chúng ta sẽ giải thích các công nghệ bộ nhớ khác nhau.

Mặc dù có nhiều công nghệ bộ nhớ tồn tại nhưng chỉ có duy nhất 2 kiểu bộ nhớ cơ bản là RAM (Random Access Memory)và ROM (Read Only Memory). RAM là loại bộ nhớ đọc ghi. RAM là bộ nhớ mà một máy tính cần có. RAM được sử dụng để lưu trữ chương trình và dữ liệu cần thiết để máy tính có thể thực hiện các chương trình, nhưng RAM là bộ nhớ không ổn định và bị mất các thông tin khi điện bị ngắt. Hiện nay, có 2 loại chip chính được chế tạo để sử dụng các loại RAM: và (staticdynamic RAM).

DRAM được xây dựng từ các tụ điện tí hon. DRAM đòi hỏi cung cấp điện năng liên tục mỗi vài mili giây để duy trì dữ liệu. SRAM thì ngược lại, duy trì nội dung cho tới khi chừng nào vẫn còn có điện. SRAM bao gồm các mạch tương tự. SRAM nhanh hơn và đắt hơn DRAM. Tuy nhiên người thiết kế sử dụng DRAM bởi vì nó có thể lưu trữ nhiều bit trên 1 chip, tiêu tốn ít điện năng, và tỏa nhiệt ít hơn SRAM. Vì những lí do đó, cả 2 công nghệ này được kết hợp sử dụng: DRAM cho bộ nhớ chính và SRAM cho bộ nhớ cache. Hoạt động cơ bản của tất cả bộ nhớ DRAM đều tương tự nhau, nhưng vẫn có nhiều đặc thù.

Các loại DRAM:

Các loại SRAM:

  • SRAM đồng bộ
  • SRAM không đồng bộ
  • pipeline burst SRAM

Ngoài bộ nhớ RAM, các máy tính còn chứa 1 bộ nhớ nhỏ ROM lưu trữ những thông tin quan trọng cần thiết cho hoạt động hệ thống. ROM ổn đinh và không bị mất dữ liệu. Loại bộ nhớ này cũng được sử dụng trong hệ thống nhúng hoặc bất cứ hệ thống nào nơi mà các chương trình không cần thay đổi. Nhiều gia dụng, đồ chơi, ô tô sử dụng ROM để duy trì thông tin khi điện bị ngắt. ROM cũng được sử dụng rộng rãi trong máy tính và các thiết bị ngoại vi như máy in laser, trong đó lưư trữ các font trong ROM. Các loại ROM cơ bản:

  • Programmable ROM (PROM) – 1 biến thể của ROM có thể được lập trình bởi người sử dụng với các thiết bị phù hợp. Trong khi ROM được cài đặt bằng phần mềm thì PROM có thể cài đặt vào chương trình vào chip. Sau khi lập trình, dữ liệu và thông tin trong PROM không thể thay đổi.
  • EPROM erasable PROM, là PROM có thể xoá đi và lập trình lại (yêu cầu một công cụ đặc biệt là tia cực tím). Để lập trình lại EPROM, toàn bộ chip trước tiên phải bị xoá hoàn toàn.
  • EEPROM electrically erasable PROM loại bỏ đi nhiều nhược điểm của EPROM, không cần công cụ đặc biệt để xoá (nó được thực thi bằng cách áp dụng một trường điện) và bạn chỉ có thể xoá các phần của chip, một byte tại 1 thời điểm.
  • Flash memory là bộ nhớ có thêm các tính năng như ghi hoặc xoá cả 1 khối, xoá bỏ 1 byte tại 1 thời điểm giới hạn. Điều này khiến flash memory nhanh hơn EEPROM.

Phân cấp bộ nhớ

Một trong những điều quan trọng được quan tâm nhất trong sự hiểu biết khả năng hiệu suất của bộ nhớ hiện đại là bộ nhớ phân cấp. Không phải tất cả các bộ nhớ đều được tao ra ngang nhau, 1 số kém hiệu quả hơn và rẻ hơn. Để giải quyết sự chênh lệch này, máy tính ngày nay kết hợp các kiểu bộ nhớ để cung cấp hiệu suất cao nhất với giá thành ít nhất. Cách tiếp cận này được gọi là bộ nhớ phân cấp. Bộ nhớ càng nhanh thì càng đắt. Bằng việc sử dụng bộ nhớ chia sẻ, với mỗi tốc độ truy cập và dung lượng khác nhau, 1 hệ thống máy tính có thể năng cao hiệu suất trên cả khả năng có thể của chúng khi mà không kết hợp các loại khác nhau lại. Hệ thống bộ nhớ phân cấp bao gồm các thanh ghi, cache, bộ nhớ chính và bộ nhớ phụ.

Máy tính ngày nay có bộ nhớ nhỏ tốc độ cao gọi là cache, nơi mà dữ liệu được lưu trữ thường xuyên. Cache kết nối tới bộ nhớ lớn hơn – bộ nhớ chính, bộ nhớ có tốc độ tầm trung. Bộ nhớ này được bổ sung bới 1 bộ nhớ phụ, kết hợp với hard disk và các phương tiện có thể tháo dời khác nhau (various removable media). Bằng việc sử dụng hệ thống phân cấp, 1 bộ nhớ có thể nâng cao tốc độ truy cập, chỉ sử dụng 1 số nhỏ chip tốc độ nhanh. Nó cho phép người thiết kế tạo ra máy tính hiệu suất chấp nhận được với giá thành hợp lý.

Chúng ta phân loại bộ nhớ dựa trên “khoảng cách” từ nó tới bộ xử lý, với khoảng cách được định nghĩa bằng số vòng máy đòi hỏi để truy cập. Bộ nhớ càng gần bộ xử lý thì càng nhanh. Và ngược lại. Công nghệ chậm sẽ sử dụng bộ nhớ ở xa còn công nghệ nhanh sẽ sử dụng bộ nhớ gần bộ vi xử lý. Công nghệ càng tốt, bộ nhớ càng nhanh và càng đắt tiền. Bộ nhớ nhanh hơn thì sẽ nhỏ hơn bộ nhớ chậm và giá thành càng cao.

Dưới đây là những thuật ngữ được sử dụng khi miêu tả bộ nhớ phân cấp:

  • Hit – Dữ liệu yêu cầu ở 1 cấp độ bộ nhớ (thông thường, chúng ta quan tâm đến tỉ lệ hit chỉ cho bộ nhớ cấp cao hơn).
  • Miss – Dữ liệu yêu cầu không tìm thấy trong cấp độ bộ nhớ.
  • Hit rate – Tỉ lệ phần trăm truy cập bộ nhớ được tìm thấy trong 1 cấp độ bộ nhớ.
  • Miss rate – Tỉ lệ phần trăm truy cập bộ nhớ không được tìm thấy trong 1 cấp độ bộ nhớ. Note: Miss Rate = 1 – Hit Rate
  • Hit time – Số lần yêu cầu để truy cập thông tin yêu cầu trong 1 cấp độ bộ nhớ.
  • Miss penalty – Thời gian cần thiết để xử lý 1 miss, bao gồm thay thế 1 khối trong 1 cấp độ trên của bộ nhớ, cộng với thời gian đưa dữ liệu yêu cầu tới bộ xử lý. (Thời gian để xử lý 1 miss lớn hơn time xử lý 1 hit).

Đối với dữ liệu bất kì, bộ xử lý sẽ gửi yêu cầu của nó tới phần bộ nhớ nhanh nhất, nhỏ nhất (cache, bởi vì register dành cho mục đích đặc biệt hơn). Nếu dữ liệu được tìm thấy trong cache, nó sẽ nhanh chóng được đưa vào CPU. Nếu nó không ở trong cache, yêu cầu sẽ được gửi tới bộ nhớ thấp hơn trong hệ thống và quá trình tìm kiếm lại bắt đầu. Nếu dữ liệu được tìm thấy ở cấp độ này, một khối dữ liệu ở đó sẽ được đưa vào cache, và cứ thể tiếp tục. Ý tưởng chính ở đây là khi cấp độ thấp hơn của hệ thống phân cấp trả lời yêu cầu từ cấp độ cao hơn cho nội dung ở vị trí X, chúng cũng gửi đi cùng 1 thời điểm, dữ liệu được đặt ở địa chỉ X + 1, X + 2… Cứ như vậy, trả lại toàn bộ khối dữ liệu tới cấp độ bộ nhớ cao hơn. Hi vọng rằng dữ liệu thêm này sẽ được tham chiếu tới trong tương lai gần. Bộ nhớ chia sẻ thiết thực bởi vì các chương trình có xu hướng sở hữu 1 vùng biết đến cục bộ (locality), cái mà thường xuyên cho phép bộ xử lý truy cập tới dữ liệu được trả lại cho địa chỉ X+1, X+2… Vì vậy, mặc dù đó là 1 miss, vẫn có thể có 1 số hit trong bộ nhớ trên khối mới được truy xuất.

Bộ nhớ đệm nhanh

Bộ xử lý máy tính rất nhanh và liên tục đọc thông tin từ bộ nhớ có nghĩa là nó phải chờ thông tin đến vì thời gian truy cập bộ nhớ chậm hơn tốc độ bộ xử lý. Một bộ nhớ đệm là bộ nhớ rất nhỏ, tạm thời và nhanh, cái mà bộ xử lý sử dụng để lấy thông tin mà nó cần trong một khơảng thời gian ngắn. Có rất nhiều ví dụ xung quanh chúng ta.

VD: Trong một ngôi nhà và những công cụ để trong gara và bạn cần sửa lại tầm hầm. Nó sẽ cần nhiều công cụ như: mũi khoan, bộ vặn đai ốc, cưa, ốc vít… Việc đầu tiên bạn nghĩ tới là đo và cắt các tấm gỗ, bạn chạy ra ngoài gara lấy cái thước đo từ kho lưu trữ, chạy xuống tầm hầm đo gỗ rồi quay trở lại nhà xe. Bỏ cái thước dây và lấy cái cưa sau đó trở lại tầng hầm với cái cưa và cắt gỗ. Bạn quyết định vặn ốc vít nối các mảnh gỗ lại. Bạn chạy lại gara để lấy khoan quay xuống tần hầm, khoan các lỗ để đặt ốc vít trở lại nhà để xe lấy cái vặn ốc, sau đó phát hiện ra là sai kích thước trở lại nhà để xe lấy cái khác và chạy lại. Bạn có làm theo cách này không? Nếu cần một cái vặn ốc có lẽ sẽ cần nhiều kích cỡ khác nhau tại sao không lấy toàn bộ những cái vặn ốc. Tiến thêm một bước tại sao không lấy một gói nhỏ bao gồm các công cụ cần thiết vào tầng hầm. Nó sẽ nhanh hơn rất nhiều. Bạn chỉ cần có bộ nhớ đệm. Một công cụ để dễ dàng truy cập và sử dụng nhanh chóng! Những công cụ mà bạn đang có ít có khả năng hơn để sử dụng vẫn còn được lưu giữ trong một địa điểm đó là đi xa hơn và đòi hỏi nhiều thời gian hơn để truy cập vào.

Đây là tất cả những gì mà bộ nhớ đệm phải làm, nó lưu trữ dữ liệu được truy cập và dữ liệu có thể được truy cập bởi CPU nhanh hơn và gần gũi hơn bộ nhớ. Bộ nhớ cache làm việc trên cùng một nguyên tắc cơ bản như là các ví dụ trước bằng cách sao chép dữ liệu thường xuyên được sử dụng vào bộ nhớ cache hơn là một đòi hỏi quyền truy cập vào bộ nhớ chính, để lấy các dữ liệu. Copy những dữ liệu cần sử dụng vào bộ đệm hơn là truy cập tới bộ nhớ chính để truy xuất dữ liệu. Bộ đệm có thể được tổ chức như cuốn sổ địa chỉ.

Kích cỡ của bộ nhớ cache bộ nhớ có thể khác nhau về độ lớn. Một điển hình của máy tính cá nhân cấp hai (L2) là bộ nhớ cache 256K hoặc 512K. Cấp bậc một (L1) là bộ nhớ cache nhỏ hơn, điển hình là 8K hay 16K. Bộ nhớ cache L1 soáng chung về việc xử lý, trong khi L2 cache soáng chung giữa CPU và bộ nhớ chính. Bộ nhớ cache L1 được, do đó, nhanh hơn bộ nhớ cache L2. Các mối quan hệ giữa L1 và L2 cache có thể được minh họa bằng cách sử dụng của chúng tôi cửa hàng Grocery ví dụ: Nếu các cửa hàng chính là bộ nhớ, bạn có thể xem xét tủ lạnh các L2 cache, và trên thực tế các bàn ăn bộ nhớ cache L1.

Mục đích của vùng đệm là tăng tốc độ truy cập bộ nhớ bằng cách lưu trữ các dữ liệu cần sử dụng với CPU thay vì lưu trong bộ nhớ chính. Dù kích cỡ của bộ nhớ đệm không lớn như bộ nhớ chính nhưng nó nhanh hơn. Bộ nhớ chính được tạo bằng DRAM với thời gian truy cập là 60ns.Còn bộ đệm được tạo bằng SRAM truy cập nhanh hơn DRAM với chu kỳ ngắn hơn (một điển hình của thời gian truy cập bộ nhớ cache là 10ns).

Cache hiện không cần phải quá lớn để thực hiện tốt. Một quy tắc chung của bộ nhớ đệm nhở đủ để cho tổng chi phí trung bình cho mỗi bit, gần đó là của chính bộ nhớ, nhưng đủ lớn để mang lại lợi ích. Vì bộ nhớ nhanh này là hơi đắt tiền, nó không khả thi để sử dụng công nghệ tìm thấy trong bộ nhớ cache bộ nhớ để xây dựng các bộ nhớ chính.

Điều gì làm cho bộ nhớ cache “đặc biệt”? Cache không được truy cập theo địa chỉ mà được truy cập theo nội dung. Vì lý do này, bộ nhớ cache đôi khi được gọi là CAM. Theo hầu hết các chương trình lập bản đồ bộ nhớ cache, bộ nhớ cache mục phải được kiểm tra hoặc tìm kiếm nếu giá trị được yêu cầu được lưu trong bộ nhớ cache. Để đơn giản hóa việc này, quá trình tìm những dữ liệu, lập bản đồ bộ nhớ đệm sử dụng các thuật toán khác nhau.

Ánh xạ bộ nhớ đệm nhanh

Bộ nhớ đệm nhanh lưu trữ những dữ liệu có ích tuy nhiên nó sẽ trở thành vô ích nếu CPU không tìm thấy nó. Khi truy cập vào dữ liệu hoặc các tập lệnh, CPU lần đầu tiên tạo ra một địa chỉ bộ nhớ chính. Nếu dữ liệu đã được sao chép vào bộ nhớ cache, các địa chỉ của dữ liệu trong bộ nhớ cache không giống như là địa chỉ chính của bộ nhớ. Ví dụ: dữ liệu được cấp phát tại địa chỉ trong bộ nhớ chính là 2E3 có thể được cấp phát rất sớm trong bộ nhớ đệm. Làm thế nào CPU tìm ra dữ liệu khi nó đã được sao chép vào bộ nhớ đệm? CPU sử dụng một chương trình ánh xạ “chuyển đổi” các địa chỉ của bộ nhớ chính vào một vị trí bộ nhớ cache.

Việc chuyển đổi đia chỉ được thực hiện bằng cách vào trong các bit trong bộ nhớ địa chỉ chính. Chúng tôi chia các bit ra làm hai phần riêng biệt gọi là các trường. Tùy thuộc vào chương trình ánh xạ, chúng tôi có thể có hai hoặc ba trường. Làm thế nào chúng tôi sử dụng các trường này phụ thuộc vào chương trình ánh xạ đang được sử dụng. Các chương trình ánh xạ xác định nơi mà các dữ liệu được đặt ban đầu khi nó được sao chép vào bộ nhớ cache và cũng có thể cung cấp một phương pháp cho CPU để tìm kiếm trước đó đã sao chép dữ liệu khi tìm kiếm bộ nhớ đệm.

Làm thế nào để chúng ta sử dụng được các trường trong bộ nhớ địa chỉ chính. Một trường trong bộ nhớ địa chỉ chính chỉ ra cho ta thấy cái dữ liệu ở bên trong nếu nó ở trong bộ nhớ cache goi là cache hit nếu không gọi là cache miss. Các khối đệm tham chiếu được kiểm tra nếu nó hợp lệ. Kết thúc nó sẽ đưa ra các bít tương ứng với mỗi khối đệm. Giá trị Bit không nghĩa là khối đệm đó không hợp lệ, và phải truy cập bộ nhớ chính. Bit một có nghĩa là hợp lệ. Sau đó chúng ta so sánh thẻ trong khối đệm tới các thẻ của địa chỉ. Nếu các thẻ giống nhau ta có thể tìm ra khối bộ đệm mong muốn (chúng tôi có một bộ nhớ cache hit). Lúc này chúng ta cần xác định từ mong muốn của khối. Tất cả các chương trình ánh xạ đều yêu cầu trường từ.

Ba chương trình ánh xạ bộ nhớ chính:

  • Cache ánh xạ trực tiếp
Ánh xạ trực tiếp sử dụng tiếp cận module. Bởi vì có nhiều khối bộ nhớ chính hơn bộ nhớ đệm. Cần rõ ràng rằng các khối bộ nhớ chính cấp phát cho bộ nhớ đệm. Ánh xạ trực tiếp khối X của bộ nhớ chính tới khối Y của bộ nhớ đệm, mod N với N là tổng số khối trong bộ nhớ đệm.
Cả hai khối ‘0’, ’10’ đều trỏ tới khối ‘0’ của khối ‘0’ của bộ đệm làm thế nào để phân biệt. Cả hai khối đều được lưu trong bộ đệm và được nhận ra bằng các thẻ được khai báo trước.
Để thực hiện ánh xạ trực tiếp các bit đại chỉ bộ nhớ chính được chia làm ba trường. Độ dài của mỗi khối phụ thuộc vào đặc điểm vật lý của bộ nhớ chính và đệm. Trường word hay offset chứa các từ để nhận dạng các khối và chứa số bit tương ứng. Khối ‘0’ chứa word trong bộ nhớ chính và được nhận ra = 00000000.Khi một khối của bộ nhớ chính được copy vào bộ nhớ cache, trường tag chứa cái khối và mã để nhận ra khối này. Tổng cộng có ba trường
  • Bộ nhớ đệm nhanh kết hợp hoàn toàn (Fully Associative Cache)
Bộ nhớ đệm nhanh ánh xạ trực tiếp không đắt như các bộ đệm khác vì kịch bản ánh xạ không đòi hỏi bất kỳ sự tìm kiếm. Khi địa chỉ bộ nhớ chính được chuyển sang bộ nhớ đệm, CPU biết chính xác vị trí để tìm trong bộ đệm bằng cách kiểm tra đơn giản số bit trong các trường. Gần giống cuốn sổ địa chỉ các trang thường có chỉ mục theo alphabetic.
Sử dụng ánh xạ tương đối địa chỉ bộ nhớ chính được chia ra làm hai phần: tag, word hình 6.8 trường word chứa ba bit nhưng trường tag là mười một bit. Khi bộ đệm được tìm kiếm, trường tag của bộ nhớ chính sẽ được so sánh với trường tag đúng của bộ đệm. Nếu không đúng ta sẽ có cache miss.
Tạo bộ nhớ tương ứng: Bộ đệm tương đối nhanh, phức tạp nhưng nó rất đắt. Mặc dù ánh xạ trức tiếp không đắt nhưng nó rất hạn chế giới hạn bộ đệm sử dụng hỗ trợ chạy 1 chương trình sử dụng khối ‘0’, khối ’16’ sau đó thực thi các câu lệnh. Bộ nhớ đệm nhanh kết hợp hoàn toàn cho phép một khối từ bộ nhớ chính có thể ở bất cứ đâu. Tuy nhiên nó yêu cầu thẻ lớn được chứa khối thêm vào đó yêu cầu phần cứng để tìm tất cả các khối của tạm thời.
  • Tạo bộ nhớ đệm nhanh tương ứng
Bộ nhớ đệm nhanh tương đối nhanh, phức tạp nhưng nó rất đắt. Mặc dù ánh xạ trức tiếp không đắt nhưng nó rất hạn chế giới hạn bộ đệm sử dụng hỗ trợ chạy một chương trình sử dụng khối ‘0’, khối ’16’ sau đó thực thi các câu lệnh. Bộ nhớ đệm nhanh kết hợp hoàn toàn cho phép một khối từ bộ nhớ chính có thể ở bất cứ đâu. Tuy nhiên nó yêu cầu thẻ lớn được chứa khối thêm vào đó yêu cầu phần cứng để tìm tất cả các khối của tạm thời
Ngoài ra còn chương trình ánh xạ thứ ba là N-way set associative cache map-ping kết hợp của hai phương pháp trên giống ánh xạ trực tiếp sử dụng địa chỉ để ánh xạ tới khối. Khác thay vì ánh xạ tới một khối đơn thì nó ánh xạ tới một tập các khối. Tất cả các khối phải có cùng kích cỡ

Chính sách thay thế

Trong bộ đệm ánh xạ trực tiếp nếu có sự bất đồng giữa các khối đệm mà chỉ có một hành động có thể thực hiện. Khối đã tồn tại trong bộ đệm sẽ bị cho ra ngoài cache để tạo phòng cho khối mới. Tiến trình đó là sự thay thế. Với ánh xạ trực tiếp không cần chính sách thay thế vì việc cấp phát mỗi khối mới là xác định lại. Tuy nhiên với fully associative và tạo bộ đệm tương ứng thì cần có giả thuật thay thế để xác định khối bị loại khỏi cache.

Thời gian truy cập hiệu quả

Hành động phân cấp bộ nhớ được tính bằng thời gian truy cập hiệu quả (EAT). VD: thời gian truy cập cache là 10ns, và bộ nhớ chính là 200ns độ cache hit là 99%.

Công thức tính EAT:

H: cache access hit

AccessC: cache access time

AccessMM: main memory access time

Công thức này có thể mở rộng ra để áp dụng ở bộ nhớ tầng ba, tầng bốn.

Khi nào bộ đệm bị hỏng

Khi có nhiều chương trình được thực thi thì bộ đệm sẽ làm việc rất tốt, tuy nhiên nếu có nhiều chương trình thực thi lỗi được chạy thì bộ đệm bị hỏng và việc phân cấp bộ nhớ rất chậm.

Chính sách ghi bộ đệm

Để xác định khối để thay thế người thiết kề phải quyết định làm gì với những khối bẩn của bộ nhớ đệm hoặc là khối bị sửa. Khi tiến trình ghi tới bộ nhớ chính, dữ liệu có thể ghi vào bộ nhớ đệm Có hai chính sách ghi cơ bản: • Write-through: cập nhật cả bộ nhớ đệm và bộ nhớ chính mỗi lần ghi. Ghi chậm hơn write-back nhưng đảm bảo bộ đệm phù hợp với bộ chính không thuận lợi là phải truy cập tới bộ nhớ chính • Write- back: cập nhật những khối trong bộ nhớ chính khi những khối trong bộ nhớ đệm bị loại khỏi cache. Nhanh hơn write-throught do không tốn thời gian ghi ra bộ nhớ đệm. Không thuận lợi vì dữ liệu bộ đệm và bộ nhớ chính có thể không cùng giá trị khi một tiến trình bị hỏng trước khi ghi tới bộ nhớ chính thực thi xong, dữ liệu ở bộ đệm bị mất.

Bộ nhớ ảo

Bộ nhớ ảo là bộ đệm trong máy tính giúp máy tính chạy nhanh hơn giống như bộ đệm. Nhờ bộ nhớ ảo mà RAM có thể sử dụng tốt hơn, chạy ứng dụng nặng. Phân trang trên 1 vùng đĩa cứng để lưu dữ liệu đã xử lý, giảm gánh nặng cho RAM. Ghi nhớ rằng địa chỉ của các thanh ghi phải được chuyển qua bộ đệm để CPU xử lý.

Một số thuật ngữ:

  • Địa chỉ Ảo: Địa chỉ logictiến trình dùng.
  • Địa chỉ Vật lý: Địa chỉ thật sự trên RAM.
  • Ánh xạ: Chuyển từ những địa chỉ ảo sang địa chỉ thật, gần giống với ánh xạ bộ nhớ đệm.
  • Khung phân trang: Những trang kích thước bằng nhau được chia ra từ bộ nhớ chính.
  • Trang: Những đoạn nhớ trong bộ nhớ ảo lưu trên đĩa cứng.
  • Phân Trang: Tiến trình sao lưu trang ảo từ đĩa cứng vào khung trang trong bộ nhớ chính.
  • Phân mảnh: Bộ nhớ trở nên không cần thiết.
  • Sai sót trang: 1 sự kiện xảy ra khi trang yêu cầu không có trong bộ nhớ chính và phải copy từ đĩa cứng vào bộ nhớ chính.

Phân Trang

Ý tưởng khá đơn giản: Khởi tạo vùng nhớ trên bộ nhớ vật lý để xử lý, lưu giữ thông tin trong 1 bảng. Mỗi tiến trình đều có 1 bảng riêng gồm N dòng, N là số trang ảo mà tiến trình cần. Mỗi trang có 2 thuộc tính: bit và số trang. Trang ảo cùng kích cỡ với trang vật lý. Bộ nhớ tiến trình được chia thành những trang cùng kích cỡ cố định lưu giữ thông tin tiến trình để xử lý.
Các bước truy cập địa chỉ ảo:

  • Trích số trang, offset từ địa chỉ ảo. Dịch số trang sang bộ nhớ thực bằng cách truy suất bảng trang.
  • Tìm kiếm số trang trong bảng trang.
  • Kiểm tra bit của trang đó. Nếu bit = 0, hệ thống tự sinh ra 1 trang lỗi và hệ điều hành phải tìm được trang được đề nghị trên đĩa tron cây khung trang.
  • Sao lưu và cập nhật lại bảng trang trong bộ nhớ chính.
  • Nếu bit=1 tức là trang trong bộ nhớ chính.
  • Thay thế số trang ảo bằng số trang thực.
  • Truy xuất dữ liệu ở trang vậy lý thực và điền vào trang ảo Địa chỉ ảo gồm 8 bit và chia thành 2 trường. Bộ nhớ chính có 4 trang, bộ nhớ ảo ánh xạ lên bộ nhớ chính.

Các trang trong bảng trang được đánh dấu trong khung trang theo bit mà bộ nhớ ảo ánh xạ vào.

Vd: bit 0 bộ nhớ ảo ánh xạ vào bit 2 bộ nhớ thực. Khung trang số 2 được điền vào bảng trang, do nó tồn tại trên bộ nhớ chính nên bit được ghi là 1. 3 bit đầu trong 8 bit bộ nhớ ảo dành cho số trang. 5 bit sau dành cho offset được tính theo số bù 2 được ghi vào thanh ghi cơ sở.
Tập tin:Ví dụ về 1 địa chỉ ảo gồm 8 bit và kích cỡ = 32 từ.JPG

Địa chỉ ảo gồm 3 bit phân trang và 5 bit offset.JPG
Vd: 000 01101 = #13. Địa chỉ 0 của tiến trình chứa dữ liệu A được ánh xạ qua bộ nhớ chính tại bit thứ 4. CPU sẽ phải chuyển từ địa chỉ ảo 0 sang địa chỉ vật lý 4.

Bảng trang lưu khung trang được ánh xạ từ các bít địa chỉ từ bộ nhớ ảo sang bộ nhớ chính: vd trang 0 ánh xạ sang trang 2,bit trong bảng trang là 1 (do trên bộ nhớ vật lý). Ánh xạ thanh ghi 4 bits từ bộ nhớ ảo sang bộ nhớ chính.

Vd: 1010 trang thứ 6 trong bộ nhớ ảo sang khung trang thứ 3 trong bộ nhớ chính. 1 địa chỉ ảo có 13 bits, 3 bits đầu dành cho số trang và 10 bits sau cho offset. 1 địa chỉ thực có 12 bits, 2 bits đầu là khung trang trong bộ nhớ chính, 10 bits sau cho offset. Khung trang càng lớn thì bảng trang càng ít nhưng sẽ lãng phí bộ nhớ nếu quá lớn.

Thời gian truy xuất phân trang

EAT = Effective Access Time. Chúng ta cần thanh ghi EAT khi sử dụng bộ nhớ ảo. Khi 2 vùng nhớ vật lý được truy suất, 1 tham chiếu tới bảng trang, 1 tham chiếu đến dữ liệu mong muốn. Giả sử bộ nhớ chính truy suất cần 200ns và tỷ lệ lỗi khung trang là 1%, 99% còn lại ta tìm được trang cần trong bộ nhớ. Cần 10ms để truy suất 1 trang không có trong bộ nhớ bao gồm chuyển trang, cập nhật trang và truy suất dữ liệu. EAT =.99(200ns + 200ns) +.01(10ms) = 13.960ns. Thậm chí nếu 100% trang ở trong bộ nhớ chính thì: EAT = 1.00(200ns + 200ns) = 400ns.

Tập tin:Trạng thái hiện tại của TLB ( translation look-aside buffer ).JPG

Trạng thái hiện tại của bộ đệm chuyển đổi.JPG‎

Truy suất bảng trang phải chi phí thời gian truy suất bộ nhớ chính vì nó được lưu trên bộ nhớ chính Có thể làm tăng tốc độ nhờ tìm kiếm bảng trang nhờ bộ đệm chuyển đổi translation look-aside buffer – bộ đệm chuyển đổi.

Các bước là: tìm số trang, offset từ địa chỉ ảo, tìm số trang ảo trong TLB, nếu thấy thì điền offset vào khung trang vật lý và truy suất vùng nhớ. Nếu không thấy thì qua bảng trang tìm kiếm trong bộ nhớ chính, nếu không có trong bộ nhớ chính tạo trang lỗi và khởi động lại khi trang đó được tìm thấy.

Kết hợp bộ đệm, tìm kiếm bộ đệm, phân trang

Bởi vì 1 bảng tìm kiếm bộ đệm có thể gây lẫn lộn, đưa nhiều thông tin gây nhầm lẫn. Giải pháp là tập hợp tất cả các phương pháp lại. Khi CPU tạo ra 1 địa chỉ nó là địa chỉ chương trình hoặc là địa chỉ ảo, địa chỉ ảo này phải được chuyển thành địa chỉ thật trước khi nó được sử dụng. Có 2 cách: sử dụng bảng dịch tìm kiếm bộ đệm để tìm khung trang mới được lưu trữ bao gồm số trang, khung trang. Nếu khung trang bị bỏ lỡ thì có thể dùng bảng trang để tìm khung trang tương ứng trong bộ nhớ chính. Số khung trang này sau đó sẽ được kết hợp với offset trong địa chỉ ảo để tạo ra địa chỉ thật.

Có hai khả năng để lấy dữ liệu:

  1. Tìm kiếm để xem có bộ nhớ cache dữ liệu.
  2. Trên một bộ nhớ cache bỏ lỡ, hãy vào phần chính của bộ nhớ vị trí khác để lấy lại dữ liệu (thường bộ nhớ đệm được cập nhật vào thời điểm này là tốt nhất).

Thuận lợi, khó khăn của phân trang, bộ nhớ ảo

Trong Phần “Thời gian truy suất phân trang”, chúng tôi đã thảo luận cách thức triển khai thực hiện thông qua bộ phân trang. Cho biết thêm một tham chiếu bộ nhớ khi truy cập vào dữ liệu. Tuy nhiên, ngay cả với một tỉ lệ cao nhấn trong bộ đệm chuyển đổi, quá trình này vẫn còn dịch phí.
Bất lợi khác của bộ nhớ ảo và phân trang là tiêu tốn tài nguyên hơn (bộ nhớ để lưu trữ trên trang bảng). Trong trường hợp (nhiều chương trình chạy 1 lúc), các bảng trang có thể mất một phần của bộ nhớ vật lý. Bộ nhớ ảo yêu cầu phần cứng và hệ điều hành hỗ trợ.

Lợi ích của sử dụng bộ nhớ ảo phải lớn hơn bất lợi trong việc sử dụng hệ thống máy tính. Đơn giản là chương trình không còn bị giới hạn bởi các số lượng bộ nhớ vật lý có sẵn. Bộ nhớ ảo cho phép chúng ta chạy các chương trình cá nhân thứ mà địa chỉ ảo lớn hơn địa chỉ vật lý (Trong thực tế, một trong những quá trình này cho phép chia sẻ bộ nhớ vật lý với chính nó). Làm cho nó dễ dàng hơn nhiều để viết các chương trình do các lập trình viên không còn có thể lo lắng về các địa chỉ vật lý không gian hạn chế.

Bởi vì mỗi chương trình đòi hỏi ít bộ nhớ vật lý, bộ nhớ ảo cũng cho phép các chương trình cùng một lúc. Điều này cho phép chúng ta chia sẻ các máy tính trong quá trình có tổng số địa chỉ không gian kích thước vượt quá kích thước bộ nhớ vật lý, dẫn đến tăng sử dụng CPU và hệ thống thông qua bộ nhớ ảo.

Phân đoạn

Phân trang là phương thức quản lý bộ nhớ phổ biến nhất nhưng vẫn còn các cách khác, tiêu biểu là phân đoạn. Thay vì chia địa chỉ ảo thành những trang kích thước bằng nhau, địa chỉ thật thành những khung trang, địa chỉ ảo được chia thành luận lý, đơn vị độ dài hoặc các đoạn.
Bộ nhớ vật lý không thật sự phân chia hoặc phân vùng. Khi 1 đoạn cần được đưa vào vùng nhớ chính, hệ điều hành sẽ tìm kiếm vùng nhớ trống đủ lớn để lưu thông tin phân đoạn đó. Mỗi phân đoạn có địa chỉ cơ sở, được tạo trong bộ nhớ, giới hạn kích cỡ.
Mỗi chương trình có thể có nhiều phân đoạn, bây giờ được kết hợp thành bảng phân đoạn thay bảng trang. Bảng phân đoạn đơn giản là tập hợp những cặp cơ sở cho mỗi phân đoạn. Bộ nhớ có thể truy xuất và phiên dịch bằng cách cung cấp 1 số vùng nhớ và offset trong phân đoạn. Kiểm tra lỗi được tổ chức để chắc chắn rằng Offset đảm bảo các giá trị ràng buộc. Nếu có, thì giá trị cơ sở cho phân đoạn (được tìm thấy trong bảng phân đoạn) sẽ được điền vào phần bù, nhường cho địa chỉ vật lý thật.

Giống như phân trang, phân đoạn cũng có những vùng nhớ phân mảng. Phân trang tạo ra những vùng nhớ đó vì khung trang có thể khởi tạo 1 tiến trình mà không cần những thuộc tính của khung trang. Phân đoạn lại khác, chứa những phân mảnh ở ngoài. Những phân đoạn được tạo và hủy, những vùng nhớ được giải phóng và chuẩn hóa lại dẫn đến lỗi trong bộ nhớ. Thực tế có rất nhiều vùng nhớ nhỏ nhưng không đủ lớn để lưu các thuộc tính của phân đoạn.

Sự khác biệt giữa phân mảnh trong và ngoài là với phân mảng ngoài, có đủ không gian nhớ để lưu trữ cho tiến trình, nhưng không gian này không liền kề nhau mà là số lượng lớn của nhiều không gian nhỏ, những lỗ hổng không được sử dụng. Với phân mảnh trong, bộ nhớ đơn giản là không tồn tại bởi vì hệ thống đã khởi tạo quá nhiều vùng nhớ cho 1 tiến trình mà nó không cần thiết. Để loại bỏ phân mảnh ngoài, hệ thống sử dụng bộ thu dọn rác. Tiến trình này đơn giản loại bỏ những vùng nhớ chiếm đóng để chúng nhỏ hơn, phân mảnh lại thành lớn hơn và có tác dụng hơn.

Sự kết hợp giữa phân đoạn và phân trang rất tiện ích bởi vì nó cho phép các phân đoạn từ phía người dùng và phân trang từ phía hệ thống.

Tổng quan bộ nhớ ảo

Bộ nhớ bao gồm: bộ đệm, bộ nhớ chính và bộ nhớ ảo trên đĩa cứng. Bộ đệm lưu trữ những thông tin thường xuyên sử dụng của vùng nhớ chính để CPU xử lý. Bộ đệm có thể dùng nhiều cách ánh xạ, theo cơ chế FIFO, LRU(rất tốt cho ứng dụng nhưng khó bổ sung). Một biện pháp thành công khác là dùng bộ nhớ ảo, bộ nhớ ảo cho phép chạy những chương trình mà địa chỉ ảo cần thiết lớn hơn địa chỉ thật. Cho phép nhiều tiến trình chạy cùng 1 lúc. Trong đó TLB được dùng để lưu trữ những cặp địa chỉ ảo/thật được sử dụng. Bộ nhớ ảo chuyển đổi từ địa chỉ ảo sang địa chỉ thật, xử lý những trang lỗi trên đĩa thay vì bộ nhớ chính.
Mối quan hệ giữa bộ nhớ chính và bộ nhớ ảo gần giống với quan hệ giữa bộ nhớ chính và bộ đệm. Thực tế TLB là bộ đệm. Một điều quan trọng để nhận thấy là địa chỉ ảo phải được chuyển dịch sang địa chỉ vật lý trước khi làm bất cứ việc gì và đó là việc mà TLB làm. Mặc dù bộ đệm và phân trang vùng nhớ gần giống nhau nhưng các đối tượng lại khác nhau. Bộ đệm tăng khả năng truy suất bộ nhớ chính trong khi đó bộ nhớ ngoài tăng kích cỡ bộ nhớ chính.

Một ví dụ thực tế về quản lý bộ nhớ

Bởi vì Pentium thể hiện những đặc điểm tiêu biểu của quản lý bộ nhớ hiện đại, chúng ta sẽ trình bày 1 cái nhìn khai quát về cách mà bộ xử lý giải quyết với bộ nhớ, Kiến trúc Pentium cho phép 32 bit địa chỉ ảo và 32 bit địa chỉ vật lý. Nó dùng hoặc 4 KB hoặc 4 MB kích thước trang khi sử dụng phân trang. Phân trang và phân khúc (segmentation) có thể áp dụng trong các kết hợp khác nhau, bao gồm unsegmented, paged memory; segmented, unpaged memory. Pentium có 2 cache L1 và L2, kích cỡ 32 byte. L1 ngay cạnh bộ xử lý, L2 thì giữa bộ xử lý và bộ nhớ. L1 cache thậm chí là 2 cache, Pentium chia L1 cache thành các cache nhỏ hơn được dùng để tổ chức lệnh (I-cache) và 1 cái để tổ chức dữ liệu (D-cache). Cả 2 L1-cache sử dụng bit LRU cho các thoả thuận với khối thay thế. Mỗi L1 cache có 1 TLB(translation look-aside buffer – bộ đệm chuyển đổi – Phương thức tăng tốc độ tra cứu page table bằng cách lưu lại hầu hết giá trị tra cứu trang gần đây trong page table cache): D-cache TLB có 64 mục còn I-cache có 32 mục. Cả 2 TLB đều có 4 cách cài đặt và sử dụng 1 LRU giả tạo thay thế. Cả 2 L1 cache đều sử dụng 2 cách để thiết lập ánh xạ. Để quản lý truy cập tới bộ nhớ, I-cache và L2 cache sử dụng giao thức MESI. Mỗi dòng cache có 2 bit để lưu các trạng thái của MESI: M: modified thay đổi (cache khác với bộ nhớ chính), E: exclusive không chấp nhận(cache không bị thay đổi và giống bộ nhớ), S: shared (line/block có thể chia sẻ với line/block cache khác), I: invalid (line/block không có trong cache).

Tổng kết

Bộ nhớ được sắp xếp theo kiểu phân cấp với bộ nhớ lớn hơn trở nên rẻ hơn, chậm hơn, bộ nhớ nhỏ hơn thì nhanh hơn, đắt hơn. Trong 1 bộ nhớ phân cấp đặc trưng ta có thể thấy 1 cache, bộ nhớ chính, bộ nhớ phụ(thường là ổ đĩa). Điều này giúp các lập trình viên cảm thấy ấn tượng với bộ nhớ lớn và nhanh mà không cần quan tâm thông tin truyền giữa các cấp độ khác nhau của hệ thống này.

Cache hoạt động như 1 bộ nhớ đệm. Để giữ các khối được sử dụng thường xuyên của bộ nhớ chính và ở gần CPU. Một mục tiêu của bộ nhớ phân cấp là giúp cho các bộ xử lý cảm thấy thời gian truy cập hiệu quả gần như thời gian truy cập cache. Mục tiệu này phụ thuộc vào các chương trình đang được thực hiện, kích cỡ và tổ chức của cache và các chính sách thay thế. Bộ xử lý liên quan được tìm thấy trong cache được gọi là cache hit(lượt truy cập), ngược lại cache miss. Trên một miss, dữ liệu bị mất được lấy lại từ bộ nhớ chính và toàn bộ khối có chứa dữ liệu sẽ được tải vào cache.

Tổ chức của cache quyết định phương thức CPU dùng để tìm kiếm cache cho nhiều địa chỉ bộ nhớ khác nhau. Cache được tổ chức theo nhiều cách: ánh xạ trực tiếp, kết hợp hoàn toàn, thiết lập kết hợp. Ánh xạ trực tiếp cache không cần thuật toán thay thế, tuy nhiên kết hợp hoàn toàn và thiết lập kết hợp phải sử dụng FIFO, LRU và các chính sách thay thế khác để quyết định khối nào bị xoá khỏi cache để có chỗ trống cho một khối mới, nếu như cache bị full. LRU cho khả năng hiệu quả cao nhưng khó thực thi.

Một mục tiêu khác của bộ nhớ phân cấp là mở rộng bộ nhớ chính bằng cách sử dụng đĩa cứng, gọi là bộ nhớ ảo. Bộ nhớ ảo cho phép chạy các chương trình trên các bộ nhớ địa chỉ ảo lớn hơn bộ nhớ vật lý. Nó cũng cho phép nhiều quá trình chạy đồng thời. Nhược điểm của bộ nhớ ảo với phân trang(bộ nhớ đệm) bao gồm tiêu tốn nhiều tài nguyên hơn(lưu trữ các bảng page) và truy cập bộ nhớ nhiều hơn(để truy cập đến bảng page). Bộ nhớ ảo cũng gánh thêm chức năng biên dịch để chuyển đổi địa chỉ ảo sang địa chỉ vật lý. Quan hệ giữa bộ nhớ ảo và bộ nhớ chính tương tự như quan hệ giữa bộ nhớ chính và cache. Khái niệm về bộ nhớ cache và TLB thường gây nhầm lẫn. Trong thực tế, TLB là một cache. Điều đó rất quan trọng để nhận ra rằng địa chỉ ảo phải được biên dịch sang địa chỉ vật lý trước khi thực hiện những việc khác, và đó chính là những gì TLB thực hiện. Cho dù cache và paged memory có vẻ giống nhau, nhưng vẫn có sự khác biệt: cache tăng hiệu quả thời gian truy cập tới bộ nhớ chính trong khi đó phân trang lại tăng kích cỡ bộ nhớ chính.

Read More
Driver All, Driver Laptop

Tổng Hợp Link Download Driver Các Hãng Máy Tính

Tổng Hợp Link Download Driver Các Hãng Máy Tính

 

Việc tìm lại driver cho máy tính sau khi cài lại Windows khiến bạn gặp nhiều khó khăn do thiếu đĩa driver. Bạn không phải quá lo lắng điều này vì ngày nay hầu hết các nhà sản xuất phần cứng đều cho ra đời website hỗ trợ download driver. Nhưng có rất nhiều website không chính thống trên Internet sẽ khiến bạn cẩn trọng hơn trong việc tìm nguồn cũng như tìm website chính thống của hãng mà bạn cần tìm.

Vì vậy, trong bài này tôi sẽ liệt kê cho các bạn danh sách những trang web download driver của một số hãng máy tính phổ biến nhất hiện nay.

Danh sách website download driver của một số hãng máy tính:

1. ACER

http://www.acer.com.vn/ac/vi/VN/content/drivers

ACER

2. ASUS

http://support.asus.com/download/options.aspx?SLanguage=en

Asus

3. AMD (ATI)

http://support.amd.com/en-us/download#

Amd (ATI)

4. DELL

http://www.dell.com/support/home/us/en/19/product-support/servicetag/DX45SQ1/drivers?~ck=mn

DELL

5. HP

http://www8.hp.com/vn/en/drivers.html

HP

6. INTEL

https://downloadcenter.intel.com/default.aspx

INTEL

7. LENOVO

http://support.lenovo.com/us/en/products?tabName=Downloads

LENOVO

8. MAC (APPLE)

http://www.apple.com/support/mac/

MAC (APPLE)

9. NVIDIA

http://www.nvidia.com/Download/index.aspx?lang=en-us

NVIDIA

10. SAMSUNG

http://www.samsung.com/vn/support/

http://drivers.vn/uploads/2014/11/20/samsung_082113.jpg

11. SONY

http://esupport.sony.com/US/p/select-system.pl?DIRECTOR=DRIVER

SONY

12. TOSHIBA

http://support.toshiba.com/drivers

TOSHIBA

Scroll To Top

HELLO USER, JOIN OUR

NEWSLETTER BASEL & CO.

Be the first to learn about our latest trends and get exclusive offers.

We use cookies to improve your experience on our website. By browsing this website, you agree to our use of cookies.